銅雀臺 Đồng tước đài – Nguyễn Du

銅雀臺 Đồng tước đài – Nguyễn Du

Nhân xem phim Đồng tước đài
gẫm cười hai chữ nhân tình éo le

Trong phim Đồng tước đài không hề đề cập đến Nhị Kiều của Giang Đông trong đó Tiếu Kiều là vợ của Chu Du. Cuốn phim là một câu chuyện hư cấu về cuối đời của Tào Mạnh Đức, không liên quan gì đến Trận Xích Bích như trong phim Xích bích đề cập đến. Nhưng nó vẫn làm tôi liên tưởng đến câu chuyện Xích bích hoài cổ dưới đây:

Xích Bích Hoài Cổ

Nguyên tác: Đỗ Mục

赤壁懷古

折戟沈沙鐵未銷
自將磨洗認前朝
東風不與周郎便
銅雀春深鎖二喬

Xích Bích hoài cổ

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
Đông phong bất dữ Chu Lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều

Dịch Nghĩa

Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khóa chặt hai nàng Kiều

Năm 1973 khi tôi đang học lớp 10 Trường Trung học Nguyễn Bá Tòng Gia Định, tôi vẫn thường đi bộ từ nhà đến nhà sách 62 Lê Lợi Sài gòn do ông Nguyễn Hùng Trương làm chủ để đọc sách, vì không hiểu vì sao ông Nguyễn Hùng Trương không buộc người ta phải mua sách, dù đó là một cửa hàng bán sách. Tôi đã đọc rất nhiều sách ở đó mà đa phần là sách dạy Hán Văn. Không biết do vần, hay d0 điệu mà tôi thích và do đó học thuộc lòng bài thơ của Đỗ Mục. Sau này tôi phát hiện bài thơ 28 chữ đó gồm 28 chữ phân biệt, khiến cho ta nếu đọc thuộc bài thơ đó thì ta biết 28 chữ Hán. Bài thơ 28 chữ này lại có 4 chữ bộ thủy, bốn chữ bộ kim là rất hiếm hoi. Đó là chưa kể nếu ta tách rời nhiều chữ ra (giống như tiếp đầu ngữ), ta có thể biết thêm nhiều từ nữa: chữ “tẩy” 洗 (rửa) bỏ bộ thủy ra chữ “tiên” (trước), chữ “sa” 沙 (cát), bỏ bộ thủy ra chữ “thiếu” (thiếu nữ, thiếu niên), chữ “nhận” 認 bỏ bộ ngôn, ra chữ “nhẫn” v.v… Suy nghĩ một cách đơn giản nếu ta thuộc 100 bài thơ kiểu như vậy thì ta sẽ biết gần 3000 chữ Hán là số lượng từ đủ để học lớp 12 ban văn chương cổ ngữ (gồm chữ Hán và chữ La-Tinh).

Nói vậy các bạn cũng đoán được dụng ý của tôi khi soạn bài này, không phải để bàn về học thuật mà chủ yếu để ôn lại chữ Hán (phồn thể) mà ngày nay ở Trung Hoa lục địa người ta không dùng nữa. Trong khi lùng sục trên Wiki, bỗng thấy bài 銅雀臺 của Nguyễn Du. Trung Hoa có rất nhiều di tích lịch sử mà người đời sau khi tham quan thường cảm thán về nó khi nhìn tàn tích mà  nhớ lại một thời vàng son. Nào là Hoàng Hạc Lâu, nào là Đằng Vương Các, nào là A Phòng Cung và Nguyễn Du đã viết bài Đồng Tước Đài cũng với tâm trạng bùi ngùi của người đời nay (là thời của ông) để rồi ngẫm lại thế thái nhân tình của thời đại mình đang sống.

Bốn câu đầu tiên, Nguyễn Du chắc là đến thăm Đồng tước đài 
Anh hùng một thuở nay ở đâu?
Người xưa đã qua, ôi! người nay tới
Chẳng thấy Ngụy Vũ đế trong thành Nghiệp
Chỉ thấy đài Đồng Tước ở bên sông

Tàn tích của một thời oanh liệt bây giờ chỉ còn:
Nền đài tuy còn, nhưng đã nghiêng đổ
Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa
Lầu Ngọc Long, Kim Phụng cũng mịt mờ dấu vết
Huống chi ca nhi, vũ nữ trong đài

Tào Tháo một thời
Người ấy lúc thịnh, ai dám chống lại?
Coi thường vua, lấn lướt vương hầu
Chỉ hận mấy tầng lầu cao sừng sững
Mà nàng Tiểu Kiều đến già vẫn là vợ Chu Lang

như thế nhưng khi chết đi như Nguyễn Du nói  ủy mị như tính khí đàn bà. Lúc sắp chết, Tào Tháo dặn các tỳ thiếp hằng ngày phải cúng các món Tào Tháo thích ăn khi còn sống và có nữ nhạc múa hát để làm vui. Tào Tháo lại chia phấn sáp, giày thêu cho các tỳ thiếp để họ bán lấy tiền khi túng thiếu.
Một sớm mai hạn lớn xảy đến
Dâng thức ăn, đàn hát mong làm vui hồn ma
Chia hương, bán giày, khổ tâm dặn dò
Bậc trượng phu tài ba lỗi lạc mà sao như thế?
Kẻ gian hùng riêng có mưu kế trong lòng

Chẳng phải kêu thương ủy mị như tính khí đàn bà?

Liên hệ với thực tại, Nguyễn Du cũng làm ta bùi ngùi  như chính ông:
Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình
Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh
Anh hùng đến như thế mà như thế

Huống chi những kẻ có chút công nhỏ mọn, danh vọng mỏng manh
我思古人傷我情
Ngã tư cổ nhân thương ngã tình
徘徊俯仰悲浮生
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh
如此英雄且如此
Như thử anh hùng thả như thử
況乎寸功與薄名
Huống hồ thốn công dữ bạc danh

Tô Đông Pha nói Tào Tháo “khi chết mới lộ chân tướng”, nhưng cái “chân tướng” của Tào Tháo không phải như ông ta hiểu. “Chân tướng” của Táo Tháo là tính người. Tào Tháo không phải một cỗ máy giết người, hoặc một biểu tượng chính trị. Ông ta là một con người bằng xương bằng thịt, có tư tưởng, có tình cảm. Nếu như do yêu cầu của đấu tranh chính trị, ông ta buộc phải che giấu nội tâm (bình sinh gian ngụy), thì trước khi chết, ông ta không cần giấu giếm gì nữa (bộc lộ chân tướng). Trung Quốc có câu “con chim sắp chết tiếng hót bi thương, con người sắp chết nói lời chân thành”. Sự chân thành của Tào Tháo chứng tỏ ông ta lưu luyến với đời và có nhiều tình cảm với người thân thuộc.

http://giadinh.net.vn/van-hoa/tao-thao-ca-doi-gian-tra-khi-chet-moi-lo-chan-tuong-18800.htm

銅雀臺

一世之雄安在哉
Nhất thế chi hùng an tại tai
古人去兮今人來
Cổ nhân khứ hề kim nhân lai
不見鄴中魏武帝
Bất kiến Nghiệp trung Ngụy Vũ Đế
但見江邊銅雀臺
Đãn kiến giang biên Đồng Tước đài
臺基雖在已傾圮

Đài cơ tuy tại dĩ khuynh bĩ
陰風怒號秋草靡
Âm phong nộ hào thu thảo mĩ
玉龍金鳳盡茫茫
Ngọc Long, Kim Phượng tận mang mang
何況臺中歌舞妓
Hà huống đài trung ca vũ kĩ
斯人盛時誰敢當
Tư nhân thịnh thời thùy cảm đương
眇視皇帝凌侯王
Miễu thị hoàng đế lăng hầu vương
只恨層臺空律屼
Chỉ hận tằng đài không luật ngột
小喬終老嫁周郎
Tiểu Kiều chung lão giá Chu Lang
一朝大限有時至
Nhất triêu đại hạn hữu thì chí
尚食奏歌圖悅鬼
Thượng thực tấu ca đồ duyệt quỷ
分香賣履苦叮嚀
Phân hương mại lí khổ đinh ninh
落落丈夫何爾爾
Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ

奸雄別自有機心
Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm
不是鳴哀兒女氣
Bất thị minh ai nhi nữ khí
千機萬巧盡成空
Thiên cơ vạn xảo tận thành không
終古傷心漳江水
Chung cổ thương tâm Chương Giang thủy
我思古人傷我情
Ngã tư cổ nhân thương ngã tình
徘徊俯仰悲浮生
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh
如此英雄且如此
Như thử anh hùng thả như thử
況乎寸功與薄名
Huống hồ thốn công dữ bạc danh
人間勳業若長在
Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại
此地高臺應未傾
Thử địa cao đài ưng vị khuynh

Anh hùng một thuở nay ở đâu?
Người xưa đã qua, ôi! người nay tới
Chẳng thấy Ngụy Vũ đế trong thành Nghiệp
Chỉ thấy đài Đồng Tước ở bên sông
Nền đài tuy còn, nhưng đã nghiêng đổ
Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa
Lầu Ngọc Long, Kim Phụng cũng mịt mờ dấu vết
Huống chi ca nhi, vũ nữ trong đài
Người ấy lúc thịnh, ai dám chống lại?
Coi thường vua, lấn lướt vương hầu
Chỉ hận mấy tầng lầu cao sừng sững
Mà nàng Tiểu Kiều đến già vẫn là vợ Chu Lang
Một sớm mai hạn lớn xảy đến
Dâng thức ăn, đàn hát mong làm vui hồn ma
Chia hương, bán giày, khổ tâm dặn dò
Bậc trượng phu tài ba lỗi lạc mà sao như thế?
Kẻ gian hùng riêng có mưu kế trong lòng

Chẳng phải kêu thương ủy mị như tính khí đàn bà?
Rốt cuộc muôn khéo nghìn khôn cũng thành không tất cả
Từ ngàn xưa đau lòng nước sông Chương
Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình
Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh
Anh hùng đến như thế mà như thế
Huống chi những kẻ có chút công nhỏ mọn, danh vọng mỏng manh
Nghiệp lớn ở đời nếu còn mãi
Thì tòa đài cao ở đất này đã chưa đổ

Đồng Tước đài phú

從明後而嬉游兮,
登層臺以娛情。
見太府之廣開兮,
觀聖德之所營。
建高門之嵯峨兮,
浮雙闕乎太清。
立中天之華觀兮,
連飛閣乎西城。
臨漳水之長流兮,
望園果之滋榮。
立雙臺於左右兮,
有玉龍與金鳳。
攬二喬於東南兮,
樂朝夕之與共。
俯皇都之宏麗兮,
瞰雲霞之浮動。
欣群才之來萃兮,
協飛熊之吉夢。
仰春風之和穆兮,
聽百鳥之悲鳴。
天雲垣其既立兮,
家願得而獲逞。
揚仁化於宇內兮,
盡肅恭於上京。
惟桓文之為盛兮,
豈足方乎聖明!
休矣!美矣!
惠澤遠揚。
翼佐我皇家兮,
寧彼四方。
同天地之規量兮,
齊日月之暉光。
永貴尊而無極兮,
等年壽於東皇。
御龍旂以遨遊兮,
迴鸞駕而周章。
恩化及乎四海兮,
嘉物阜而民康。
願斯臺之永固兮,
樂終古而未央!

Tòng minh hậu dĩ hì du hề,
Đăng tằng đài, dĩ ngu tình.
Kiến Thái phủ chi quảng khai hề.
Quan Thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề,
Phù song khuyết hồ Thái thanh.
Lập trung thiên chi hoa quan hề,
Liên phi các hồ Tây vực.
Lâm Chương thuỷ chi trường lưu hề,
Vọng viên quả chi tư vinh.
Lập song đài ư tả hữu hề,
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng
Liên Nhị Kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.
Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
Khám vân hà chi phù động.
Hán quần tài chi lai tuỵ hề.
Hiệp phi hùng chi cát mộng.
Ngưỡng xuân phong chi hoà mục hề.
Thính bách điểu chi bi minh.
Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề,
Gia nguyện đắc hồ song sinh.
Dương nhân hoá vu vũ trụ hề,
Tận túc cung vu thượng kinh.
Duy hoàn, văn chi duy thịnh hề,
Khởi túc phương hồ thánh minh.
Hưu hỹ! Mỹ hỹ!
Huệ trạch viễn dương.
Dực tá ngã hoàng gia hề.
Ninh bỉ tứ phương.
Đồng thiên địa chi qui lượng hề.
Tề nhật nguyệt chi huy quang.
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề.
Đẳng quân thọ ư đông hoàng.
Ngự long kỳ dĩ ngao du hề
Hồi loan giá nhi chu chương.
Tư hoá cập hồ tứ hải hề,
Gia vật phụ nhi dân khang.
Nguyện tư đài chi vĩnh cô hề,
Lạc chung cổ nhi vị hương!

vẫn viết chưa xong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s