Chinh phụ ngâm nguyên tác 征 婦 吟 原 作

Bản dịch sang Nhật ngữ

http://hannom.huecit.vn/Document/tabid/59/categoryid/19/Default.aspx

I.
天 地 風 塵
紅 顏 多 迍
悠 悠 彼 蒼 兮 誰 造 因
鼓 鼙 聲 動 長 城 月,
風 火 影 照 甘 全 雲 ,
九 重 按 劍 起 當 席,
半 夜 飛 檄 傳 將 君。
清 平 三 百 年 天 下,
從 此 戎 衣 屬 武 神
使 星 天 門 催 曉 發,
行 人 重 法 輕 離 別。
弓 箭 兮 在 腰,
妻 孥 兮 別 袂。
獵 獵 旌 旗 出 塞 愁,
喧 喧 簫 鼓 辭 家 怨。
有 怨 兮 分 攜,
有 愁 兮 契 闊。

I
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đây
Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng, niềm tây sá nào
Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
Bóng cờ tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng

II.
良 人 二 十 吳 門 豪,
投 筆 硯 兮 事 弓 刀,
欲 把 連 城 獻 明 聖,
願 將 尺 劍 斬 天 驕。
丈 夫 千 里 志 馬 革,
泰 山 一 擲 輕 紅 毛。
便 辭 閨 閫 從 征 戰,
西 風 鳴 鞭 出 渭 橋。
渭 橋 頭, 清 水 溝,
清 水 邊, 青 草 途,
送 君 處 兮 心 悠 悠,
君 登 途 兮 妾 恨 不 如 駒,
君 臨 流 兮 妾 恨 不 如 舟.
青 青 流 水, 不 洗 妾 心 愁,
青 青 芳 草, 不 亡 妾 心 憂,
語 復 語 兮 執 君手。
步 一 步 兮 攀 君 襦,
妾 心 隨 君 似 明 月。
君 心 萬 里 千 山 箭,
擲 離 杯 兮 舞 龍 泉,
橫 征 槊 兮 指 虎 穴。
云 從 介 子 獵 樓 蘭,
笑 向 蠻 溪 談 馬 援。
君 披 壯 服 紅 如 霞
君 騎 驍 馬 白 如 雪。
驍 馬 兮 鸞 鈴,
征 鼓 兮 人 行,
須 臾 兮 對 面,
頃 刻 兮 分 程 。

II
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn như tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay

III.
分 程 兮 河 梁,
徘 徊 兮 路 仿,
路 傍 一 望 旆 央 央,
前 軍 北 細 柳,
後 騎 西 長 楊,
騎 軍 相 擁 君 臨 塞,
楊 柳 那 知 妾 斷 腸,
去 去 落 梅 聲 漸 遠,
行 行 征 旆 色 何 忙。
望 雲 去 兮郎 別 妾,
望 山 歸 兮 妾 思 郎,
郎 去 程 兮 濛 雨 外,
妾 歸 處 兮 昨 夜 房,
歸 去 兩 回 顧,
雲 青 與 山 蒼,
郎 顧 妾 兮 咸 陽,
妾 顧 郎 兮 瀟 湘,
瀟 湘 煙 阻 咸 陽 樹,
咸 陽 樹 鬲 瀟 湘 江,
相 顧 不 相 見,
青 青 陌 上 桑,
陌 上 桑, 陌 上 桑,
妾 意 君 心 誰 短 長

III
Hà Lương chia rẽ đường này
Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch trổi nghe chừng đồng vọng
Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
Ðoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

IV.
自 從 別 後 風 霜 隴
明 月 知 君 何 處 宿
古 來 征 戰 場,
萬 里 無 人 屋。
風 緊 緊, 打 得 人 顏 悴,
水 深 深, 怯 得 馬 蹄 蹴。
戍 夫 枕 鼓 臥 龍 沙,
戰 士 抱 鞍 眠 虎 陸,
今 朝 漢 下 白 登 城,
明 日 胡 窺 青 海 曲。
清 海 曲, 青 山 高 復 低,
青 山 前 , 清 溪 斷 復 續
青 山 上 雪 濛 頭
青 溪 下 水 沒 腹
可 憐 多 少 鐵 衣 人
思 歸 當 此 愁 顏 蹙
錦 帳 君 王 知 也 無
艱 難 誰 為 畫 征 夫
料 想 良 人 經 歷 處
蕭 關 角 瀚 海 隅
霜 村 武 店 虎 落 蛇 區
風 餐 露 宿 雪 脛 冰 鬚
登 高 望 雲 色
安 得 不 生 愁

IV
Chàng từ đi vào nơi gió cát
Ðêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon
Ôm yên, gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua
Hình khe, thế núi gần xa
Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao
Sương đầu núi buổi chiều như giội
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu
Não người áo giáp bấy lâu
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên
Chẳn nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan
Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong
Lên cao trông thức mây lồng
Lòng nào là chẳng động lòng bi thương!

V.
自 從 別 後 東 南 噭
東 南 知 君 戰 何 道
古 來 征 戰 人
姓 命 輕 如 草
風 刃 下, 溫 溫 挾 纊 主 恩 深
時 刻 中 , 歷 歷 橫 戈 壯 士 夭
祈 山 舊 塚 月 茫 茫
肥 水 辛 墳 風 裊 裊
風 裊 裊 , 空 吹 死 士 魂
月 茫 茫 , 曾 照 征 夫 貌
征 夫 貌 , 誰 丹 青
死 士 魂 , 誰 哀 弔
可 憐 爭 鬥 舊 山 川
行 人 過 此 情 多 少。
古 來 征 戰 幾 人 還
班 超 歸 時 鬢 已 班
料 想 征 人 馳 騁 外 。
三 尺 劍, 一 戎 鞍
秋 風 沙 草
明 月 關 山
馬 頭 鳴 鏑
城 上 緣 竿,
功 名 百 忙 裏
勞 苦 未 應 閑
勞 與 閑, 誰 與 言
君 在 天 涯 妾 倚 門 。

V
Chàng từ sang Ðông Nam khơi nẻo
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu
Như xem tính mệnh như màu cỏ cây
Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa, nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
Phận trai già cõi chiến trường
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành
Áng công danh trăm đường rộn rã
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây

VI.
倚 門 固 妾 今 生 分
天 涯 豈 君 平 生 魂
自 信 相 隨 魚 水 伴
那 坩 相 隔 水 雲 村
妾 身 不 想 為 征 婦
君 身 豈 學 為 王 孫
何 事 江 南 與 江 北
令 人 愁 曉 又 愁 昏。
一 個 是 風 流 少 年 客
一 個 是 風 流 少 年 魂,
可 憐 兩 年 少
千 里 各 寒 暄。
憶 昔 與 君 相 別 時
柳 條 猶 未 囀 黃 鸝。
問 君 何 日 歸
君 約 杜 鵑 啼,
杜 鵑 已 逐 黃 鸝 老
青 柳 樓 前 語 鷾 鴯
憶 昔 與 君 相 別 中
雪 梅 猶 未 識 東 風
問 君 何 日 歸
君 指 桃 花 紅,
桃 花 已 逐 東 風 去,
老 梅 江 上 又 芙 蓉。
與 君 約 何 所
乃 約 壟 西 岑,
日 中 兮 不 來
墜 葉 兜 我 簪,
佇 立 空 涕 泣,
荒 村 暄 暮 禽。
與 君 約 何 所
乃 約 漢 陽 橋,
日 晚 兮 不 來,
谷 風 吹 我 袍,
佇 立 空 涕 泣,
寒 江 豈 暮 潮。

VI
Trong cửa này đã đành phận thiếp
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
Những mong cá nước sum vầy
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn
Cớ sao cách trở nước non
Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu
Khách phong lưu đương chừng niên thiếu
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục, oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió Ðông
Phù dung lại đã bên sông bơ sờ
Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy
Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?
Ngập ngừng, lá rụng cành trâm
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ
Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao?
Ngập ngừng gió thổi chéo bào
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông

VII.
昔 年 寄 信 勸 君 回,
今 年 寄 信 勸 君 來。
信 來 人 未 來,
楊 花 零 落 委 蒼 苔,
蒼 苔, 蒼 苔, 又 蒼 苔,
一 步 閑 庭 百 感 催。
昔 年 寄 書 訂 妾 期,
今 年 回 書 訂 妾 歸,
書 歸 人 未 歸,
紗 窗 寂 寞 轉 斜 暉。
斜 暉, 斜 暉, 又 斜 暉
十 約 佳 期 九 度 違。
試 相 去 日 從 頭 數,
不 覺 荷 錢 已 三 鑄。
最 苦 是, 連 年 紫 塞 人
最 苦 是, 千 里 黃 花 戍
紫 塞 人, 誰 無 堂 上 親
黃 花 戍, 誰 無 閨 中 婦
有 親 安 可 暫 相 離,
有 婦 安 能 久 相 負。
君 有 老 親 鬢 如 霜,
君 有 嬰 兒 年 且 孺。
老 親 兮 倚 門,
嬰 兒 兮 待 哺,
供 親 食 兮 妾 為 男,
課 兒 書 兮 妾 為 父。
供 親 課 子 此 一 身,
傖 妾 思 君 今 幾 度。
思 君 昔 年 兮 已 過,
思 君 今 年 兮 又 暮,
君 淹 流 二 年 三 年 更 四 年,
妾 情 懷 百 縷 千 縷 還 萬 縷。

安 得 在 郡 邊,
訴 妾 中 腸 苦。
妾 有 漢 宮 釵,
曾 是 嫁 時 將 送 來,
憑 誰 寄 君 子,
表 妾 相 思 懷。
妾 有 秦 樓 鏡,
曾 與 郎 初 相 對 影,
憑 誰 寄 君 子,
照 妾 今 孤 另。
妾 有 鉤 脂 銀,
手 中 曾 相 親,
憑 誰 寄 君 子,
微 物 寓 恩 懃。
妾 有 搔 頭 玉,
嬰 兒 年 所 弄,
憑 誰 寄 君 子,
他 鄉 幸 珍 重。

VII

Tin thường lại, người không thấy lại
Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh
Rêu xanh mấy lớp chung quanh
Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ
Thư thường tới, người không thấy tới
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang
Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai
Thử tính lại diễn khơi ngày ấy
Tiền sen này đã nẩy là ba
Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài
Tình gia thất nào ai chẳng có
Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương
Mẹ già phơ phất mái sương
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
Nay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mể biết bao!
Nhớ chàng trải mấy sương sao
Xuân từng đổi mới, Ðông nào còn dư
Kể năm đã ba tư cách diễn
Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
Ước gì gần gũi tấc gang
Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá
Gương lầu Tần dấu đã soi chung
Cậy ai mà gửi tới cùng?
Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư
Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía
Ngọc cài đầu thuở bé vui tươi
Cậy ai mà gửi tới nơi
Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân.

VIII.
昔 年 音 信 有 來 時,
今 年 音 稀 信 亦 稀。
見 雁 枉 然 思 塞 帛,
聞 霜 漫 自 製 綿 衣,
西 風 欲 寄 無 鴻 便,
天 外 憐 伊 雪 雨 垂。
雪 寒 兮 虎 帳,
雨 冷 兮 狼 幃,
寒 冷 般 般 苦,
天 外 可 憐 伊。
錦 字 題 詩 封 更 展,
金 錢 問 卜 信 還 疑。
幾 度 黃 昏 時,
重 軒 人 獨 立,
幾 度 明 月 夜,
單 枕 鬢 斜 攲。
不 關 沉 與 醒,
惛 惛 人 似 醉,
不 觀 愚 與 惰,
惘 惘 意 如 痴。
簪 斜 委 髺 篷 無 奈,
裙 褪 柔 腰 瘦 不 支。
晝 沉 沉, 午 院 行 如 墜
夕 陰 陰, 湘 簾 捲 又 垂
簾 外 窺 日 出 枝 頭 無 鵲 報
簾 中 坐 夜 來 心 事 只 燈 知
燈 知 若 無 知,
妾 心 只 自 悲。
悲 又 悲 兮 更 無 言,
燈 花 人 影 總 堪 憐,
咿 喔 溪 聲 通 五 夜,
披 拂 槐 陰 度 八 磚。
愁 似 海,
刻 如 年,
強 然 香, 花 魂 欲 消 檀 柱 下
強 臨 鏡, 玉 箸 空 墜 菱 花 前
強 援 琴, 指 下 驚 停 鸞 鳳 柱
強 鼓 瑟, 曲 中 愁 歇 鴛 鴦 絃
此 意 春 風 若 肯 傳。
千 金 借 力 寄 燕 然,
燕 然 未 肯 傳,
憶 君 迢 迢 路 如 天。

VIII
Trải mấy thu, tin đi tin lại
Tới xuân này tin hãy vắng không
Thấy nhàn, luống tưởng thư phong
Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng
Gió tây nổi không đường hồng tiện
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa
Màn mưa trướng tuyết xông pha
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài
Ðề chữ gấm, phong thôi lại mở
Gieo bói tiền tin dở còn ngờ
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai
Há như ai, hồn say bóng lẫn
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không
Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng
Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Bức rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Ðèn có biết, dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Gà eo óc gáy sương năm trống
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng
Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

IX.
天 遠 未 易 通,
憶 君 悠 悠 思 何 窮。
愁 人 處, 傖 心 胸,
樹 葉 青 霜 裏,
蛩 聲 細 雨 中。
霜 斧 殘 兮 楊 柳,
雨 鋸 損 兮 梧 桐,
鳥 返 高 舂,
露 下 低 叢,
寒 院 候 蟲,
遠 寺 時 鍾,
蟋 蟀 數 聲 月,
芭 蕉 一 院 風。
風 裂 紗 窗 穿 帳 隙,
月 移 花 影 上 簾 蘢,
花 前 月 下 月 自 白,
月 下 花 前 花 自 紅,
月 花 花 月 兮 影 重 重,
花 前 月 下 兮 心 沖 沖。
千 般 懶,
萬 事 慵,
慵 女 功, 錦 軸 恥 拋 鶯 對 偶
慵 婦 巧, 金 針 羞 刺 蝶 雌 雄
慵 粧 愁 臉 空 施 粉,
慵 語 終 朝 悶 倚 窗。
倚 窗 , 倚 窗 復 倚 窗,
郎 君 去 兮 誰 為 容,
誰 為 容 兮 心 盤 桓,
郎 君 去 兮 隔 重 關。
何 啻 天 帝 孫,
泠 落 立 銀 渚,
何 啻 姮 娥 婦,
淒 涼 坐 廣 寒。
藉 愁 兮 為 枕,
煮 悶 兮 為 餐,
欲 將 酒 制 愁,
愁 重 酒 無 力,
欲 將 花 解 悶,
悶 壓 花 無 顏。
愁 悶 總 為 愁 悶 悟,
悶 愁 化 作 九 泉 灘。

IX
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun
Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
Giọt sương phủ bụi chim gù
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Lá màn lay ngọn gió xuyên
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau
Ðâu xiết kể, muôn sầu nghìn não
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song
Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Biếng trang điểm, lòng người sầu tủi
Xót nỗi chàng, ngoài cõi trùng quan
Khác gì ả Chức, chị Hằng
Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng
Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối
Buồn chứa đầy, hãy thổi làm cơm
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi

X.
試 瓊 笙 兮 不 成 響,
抱 銀 箏 兮 不 忍 彈,
思 遠 塞 兮 行 路 難,
念 征 夫 兮 囊 橐 單。
鵑 聲 啼 落 關 情 淚,
譙 鼓 敲 殘 帶 憊 肝,
不 勝 憔 悴 形 骸 軟,
始 覺 睽 離 滋 味 酸。
滋 味 酸 兮 更 辛 酸,
辛 酸 端 的 為 良 人,
未 良 人 兮 雙 妾 淚,
為 良 人 兮 隻 妾 身,
妾 身 不 到 君 征 帳,
妾 淚 不 到 君 征 巾,
惟 有 夢 魂 無 不 到,
尋 君 夜 夜 到 江 津。
尋 君 兮 陽 臺 路,
會 君 兮 湘 江 津,
記 得 幾 年 歡 會 處,
無 非 一 枕 夢 中 春。
此 身 反 恨 不 如 夢,
隴 水 函 關 與 子 親,
夢 去 每 憎 驚 更 斷,
夢 回 還 惡 幻 非 真,
惟 有 寸 心 真 不 斷,
未 常 頃 刻 少 離 君。
心 不 離 君, 未 見 君,
憑 高 幾 度 望 征 輪。
望 君 何 所 見
江 邊 滿 白 蘋,
燕 草 披 青 縷,
秦 桑 染 綠 雲,
南 來 井 邑 半 風 塵,
落 日 平 沙 雁 一 群。
望 君 何 所 見
驛 路 短 長 亭,
雲 間 吳 樹 碧,
天 祭 蜀 山 青,
北 來 和 黍 半 荒 城,
微 雨 江 樓 笛 一 聲。

X
Gõ sanh ngọc mấy hồi không tiếng
Ôm đàn tranh mấy phím rời tay
Xót người hành dịch bấy nay
Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi
Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt
Trống tiều khua, như đốt buồng gan
Võ vàng đổi khác dung nhan
Khuê ly mới biết tân toan dường này
Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ
Chua cay này, há có vì ai?
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
Duy còn hồn mộng được gần
Ðêm đêm thường đến Giang Tân tìm người
Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
Sum vầy mấy lúc tình cờ
Chẳng qua trên gối một giờ mộng Xuân
Giận thiếp thân lại không bằng mộng
Ðược gần chàng bến Lũng, thành Quan
Khi mơ những tiếc khi tàn
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!
Duy có một tấm lòng chẳng dứt
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi
Lòng theo song chửa thấy người
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe
Trông bến Nam, bãi che mặt nước
Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh
Nhà thôn mấy xóm chông chênh
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm
Trông đường Bắc, đôi chòm quán khách
Rườm rà xanh cây ngất núi non
Lúa thành thoi thóp bên cồn
Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu

XI.
望 君 何 所 見
空 山 葉 做 堆
自 飛 雙 白 雉
自 舞 滿 江 梅
東 去 峰 煙 慘 不 開
西 風 零 落 鳥 聲 哀。
望 君 何 所 見
河 水 曲 如 鉤
長 空 數 點 雁
遠 浦 一 歸 舟
西 去 松 秋 接 斷 蕪
行 人 微 沒 隔 蒼 洲
望 盡 天 頭 又 地 頭
幾 日 登 樓 又 下 樓
凍 雲 阻 盡 相 思 眼
何 處 玉 關 征 戰 陬
恨 無 長 房 縮 地 術,
恨 無 仙 子 擲 巾 符。
有 心 成 化 石
無 淚 可 登 樓。
回 首 長 堤 楊 柳 色,
悔 教 夫 婿 覓 封 侯。
不 識 離 家 千 里 外
君 心 有 似 妾 心 否
君 心 倘 與 妾 心 似,
妾 亦 於 君 何 怨 尤。
妾 心 如 花 常 向 陽,
只 怕 君 心 如 流 光,
流 光 一 去 不 復 照,
花 為 流 光黃 又 黃。
黃 花 更 向 誰 邊 笑,
流 光 不 肯 一 回 照,
黃 花 卻 為 流 光 老,
黃 花 老 兮 落 滿 檣,
花 落 如 今 隔 幾 霜。

XI
Non Ðông thấy lá hầu chất đống
Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai
Khói mù nghi ngút ngàn khơi
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương
Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu
Ngàn thông chen chúc khóm lau
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về
Trông bốn bề chân trời mặt đất
Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen
Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan?
Gậy rút đất dễ khôn học chước
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên
Lòng này hóa đá cũng nên
E không lệ ngọc mà lên trông lầu
Lúc ngảnh lại ngắm màu dương liễu
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế
Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa
Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
Hoa để vàng bởi tại bóng dương
Hoa vàng hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần

XII.
庭 蘭 兮 已 摘
江 蘋 兮 又 芳
攝 衣 步 前 堂
仰 目 觀 天 章
河 水 分 明 滅
奎 躔 乍 現 藏
纖 雲 時 彷 彿
北 斗 忽 低 昂
月 照 兮 我 床
風 吹 兮 我 牆
玉 顏 隨 身 削
丈 夫 猶 他 方。
昔 為 形 與 影
今 為 參 與 商
君 邊 雲 擁 青 驃 騎
妾 處 苔 生 響 屧 廊
廊 內 春 風 日 將 歇
可 憐 誤 盡 良 時 節
良 時 節, 姚 黃 魏 紫 嫁 東 風
良 時 節, 織 女 牽 牛 會 明 月
可 憐 枉 守 一 空 房
年 年 誤 盡 良 時 節
良 時 節 兮 急 如 梭
人 世 青 春 容 易 過
況 復 是, 春 思 未 消 春 恨 續
況 復 是, 合 歡 更 少 別 離 多
別 愁 秋 恨, 兩 相 磨
蒲 柳 青 青 能 幾 何
空 嘆 息, 浪 咨 嗟
只 恐 白 到 文 君 頭 空 嘆 息
只 恐 華 到 潘 郎 鬢 浪 咨 嗟
嘆 息 何 以 為
顏 色 猶 嬌 如 嫩 花
咨 嗟 何 以 為
光 陰 一 擲 無 回 過。
思 命 薄, 昔 年 花,
絲 絲 少 婦, 幾 成 婆,
春 閣 重 懷 陪 笑 臉,
花 樓 上 記 解 香 羅。
恨 天 不 與 人 方 便,
底 事 到 今 成 坎 坷。
坎 坷 , 坎 坷 , 奈 若 何
為 妾 嗟 兮 為 君 嗟。

XII
Chồi lan nọ trước sân đã hái
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương
Sửa xiêm dạo bước tiền đường
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ
Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ
Ðộ Khuê Triền buổi có buổi không
Thức mây đòi lúc nhạt hồng
Chuôi sao Bắc Ðẩu thôi Ðông lại Ðoài
Mặt trăng tỏ thường soi bên gối
Bừng mắt trông sương gội cành khô
Lạnh lùng thay, bấy nhiêu thu
Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi
Một năm một nhạt mùi son phấn
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
Xưa sao hình ảnh chẳng rời
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in
Gió Xuân ngày một vắng tin
Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì
Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau
Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông
Thương một kẻ phòng không luống giữ
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh
Xuân thu để giận quanh ở dạ
Hợp ly đành buồn quá khi vui
Oán sầu nhiều nỗi tơi bời
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân
Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước
E đến khi đầu bạc mà thương
Mặt hoa nọ gã Phan Lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ giòng
Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt
Lầu hoa kia phảng phất mùi hương
Trách trời sao để nhỡ nhàng
Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên

XIII.
君 不 見 野 外 雙 鴛 鴦
甘 心 不 忍 兩 分 張,
又 不 見 梁 間 雙 燕 燕
白 頭 何 曾 忘 繾 綣。
鶼 者 無 情 比 翼 相 隨 過 一 生
蛩 者 無 知 並 驅 到 老 不 相 離
路 柳 曾 傳 連 理 處,
池 蓮 亦 有 並 頭 時。
何 人 生 之 相 遠,
嗟 物 類 之 如 斯
安 得 在 天 為 比 翼 鳥,
在 地 為 連 理 枝
寧 甘 死 相 別,
何 忍 生 相 離,
雖 然 死 相 見,
曷 若 生 相 隨。
安 得 君 無 到 老 日,
妾 常 少 年 時。
願 為 影 兮 隨 君 邊,
君 有 行 兮 影 不 遠,
君 依 光 兮 妾 所 願 。

XIII
Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội
Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương
Chẳng xem chim yến trên rường
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
Liễu, sen là thức cỏ cây
Ðôi hoa cũng dính, đôi dây cũng liền
Ấy loài vật tình duyên còn thế
Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
Thiếp xin về kiếp sau này
Như chim liền cánh, như cây liền cành
Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên
Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền
Mọi bề trung hiếu, thiếp xin vẹn tròn

XIV.
願 君 許 國 心 如 丹,
願 君 庇 民 力 如 鐵
饑 來 吞 下 月 氏 頭,
渴 來 飲 下 單 于 血。
何 幸 期 門 鋒 刃 中,
老 天 著 意 護 英 雄。
護 英 雄, 百 戰 功,
長 驅 駟 馬 定 關 東。
關 東 關 北 休 傳 箭,
山 尾 山 頭 早 掛 弓。
捷 色 旌 旗 辭 塞 月,
凱 歌 將 士 背 邊 風。
勒 功 兮 燕 然 石,
獻 馘 兮 未 央 宮
未 央 宮 兮 向 天 朝,
挽 銀 河 兮 洗 刀 弓。
詞 人 刊 下 平 淮 頌,
樂 府 聲 傳 入 漢 謠,
凌 煙 閣 兮 秦 叔 寶,
麒 麟 臺 兮 霍 嫖 姚。
天 長 地 久 茅 書 券,
子 廕 妻 封 福 祿 標。
有 愁 兮 此 日,
得 意 兮 來 時。

XIV
Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt
Sức tý dân dường sắt trơ trơ
Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi
Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn
Mũi đòng vác đòi lần hăm hở
Ðã lòng trời gìn giữ người trung
Hộ chàng trăm trận nên công
Buông tên ải Bắc, treo cung non Ðoài
Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải
Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh
Ðỉnh non kia, đá đề danh
Triều thiên vào trước cung đình dâng công
Nước Ngân Hán vác đòng rửa sạch
Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền
Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân
Nền huân tướng nên công rạng vẻ
Chữ đồng hưu bia thẻ nghìn đông
Ơn trên: tử ấm thê phong
Phần vinh thiếp cũng đượm chung hương trời

XV.
妾 非 蘇 家 痴 心 婦,
君 亦 落 陽 好 男 兒,
歸 來 倘 佩 黃 金 印,
肯 學 當 年 不 下 機。
願 為 君 兮 解 征 衣,
願 為 君 兮 俸 霞 卮
為 君 梳 櫛 雲 環 髺
為 君 粧 點 玉 膚 脂。
收 君 看 兮 舊 淚 巾,
訴 君 聽 兮 舊 情 詞。
舊 情 詞 兮 換 新 聯,
講 新 話 兮 酒 杯 前
淺 酌 兮 漫 漫
低 唱 兮 連 連。
酌 不 酌 兮 葡 萄 酒
唱 不 唱 兮 紫 騮 篇。
約 九 韞 , 唱 雙 聯,
與 君 整 頓 舊 人 緣,
交 頸 成 雙 到 老 天。
償 了 功 名 離 別 日,
相 連 相 守 太 年,
太 平 年 願 歲 置,
若 然 此 後 妾 何 淚。
相 會 相 期 相 寄 言,
嗟 乎 丈 夫 當 如 是。

XV
Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ
Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương
Khi về đeo quả ấn vàng
Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao
Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì chàng giũ lớp phong sương
Vì chàng tay chuốc chén vàng
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng
Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm
Ðọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu
Câu vui đổi với câu sầu
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời
Sẽ rót vơi lần lần từng chén
Sẽ ca dần ren rén từng thiên
Liên ngâm đối ẩm đòi phen
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
Cho bõ lúc xa sầu, cách nhớ
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình
Ngâm nga mong gửi chữ tình
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu!

『 終』

天地風塵
Thiên địa phong trần
紅顏多屯
Hồng nhan đa truân
悠悠彼蒼兮誰造因
Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân
鼓鼙聲動長城月
Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt
烽火影照甘泉雲
Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
九重按劍起當席
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
半夜飛檄傳將軍
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
清平三百年天下
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
從此戎衣屬武臣
Tùng thử nhung y thuộc vũ thần
使星天門催曉發
Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát
行人重法輕離別
Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt
弓箭兮在腰
Cung tiễn hề tại yêu
妻孥兮別袂
Thê noa hề biệt khuyết
獵獵旌旗兮出塞愁
Liệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu
喧喧簫鼓兮辭家怨
Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán
有怨兮分攜
Hữu oán hề phân huề
有愁兮契闊
Hữu sầu hề khế khoát

良人二十吳門豪
Lương nhân nhị thập Ngô môn hào
投筆硯兮事弓刀
Đầu bút nghiên hề sự cung đao
直把連城獻明聖
Trực bả liên thành hiến minh thánh
願將尺劍斬天驕
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu
丈夫千里志馬革
Trượng phu thiên lý chí mã cách
泰山一擲輕鴻毛
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
便辭閨閫從征戰
Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến
西風鳴鞭出渭橋
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều
渭橋頭清水溝
Vị kiều đầu thanh thuỷ câu
清水邊青草途
Thanh thuỷ biên thanh thảo đồ
送君處兮心悠悠
Tống quân xứ hề tâm du du
君登途兮妾恨不如駒
Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu
君臨流兮妾恨不如舟
Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu
清清有流水
Thanh thanh hữu lưu thuỷ
不洗妾心愁
Bất tẩy thiếp tâm sầu
青青有芳草
Thanh thanh hữu phương thảo
不忘妾心憂
Bất vong thiếp tâm ưu
語復語兮執君手
Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ
步一步兮牽君襦
Bộ nhất bộ hề khiên quân nhu
妾心隨君似明月
Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt
君心萬里千山箭
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn
擲離杯兮舞龍泉
Trịch ly bôi hề vũ Long Tuyền
橫征槊兮指虎穴
Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệt
云隨介子獵樓蘭
Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan
笑向蠻溪談馬援
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện
君穿壯服紅如霞
Quân xuyên trang phục hồng như hà
君騎驍馬白如雪
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết
驍馬兮鸞鈴
Kiêu mã hề loan linh
征鼓兮人行
Chinh cổ hề nhân hành
須臾中兮對面
Tu du trung hề đối diện
頃刻裡兮分程
Khoảnh khắc lý hề phân trình

分程兮河梁
Phân trình hề hà lương
徘徊兮路旁
Bồi hồi hề lộ bàng
路旁一望兮旆央央
Lộ bàng nhất vọng hề bái ương ương
前車兮北細柳
Tiền xa hề Bắc Tế Liễu
後騎兮西長楊
Hậu kỵ hề Tây Trường Dương
騎車相擁君臨塞
Kỵ xa tương ủng quân lâm tái
楊柳那知妾斷腸
Dương liễu na tri thiếp đoạn trường
去去落梅聲漸遠
Khứ khứ lạc mai thanh tiệm viễn
行行征旆色何忙
Hành hành chinh bái sắc hà mang
望雲去兮郎別妾
Vọng vân khứ hề lang biệt thiếp
望山歸兮妾思郎
Vọng sơn quy hề thiếp tư lang
郎去程兮濛雨外
Lang khứ trình hề mông vũ ngoại
妾歸處兮昨夜房
Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng
歸去兩回顧
Quy khứ lưỡng hồi cố
雲青兮山蒼
Vân thanh hề sơn thương
郎顧妾兮咸陽
Lang cố thiếp hề Hàm Dương
妾顧郎兮瀟湘
Thiếp cố lang hề Tiêu Tương
瀟湘煙阻咸陽樹
Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ
咸陽樹隔瀟湘江
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang
相顧不相見
Tương cố bất tương kiến
青青陌上桑
Thanh thanh mạch thượng tang
陌上桑陌上桑
Mạch thượng tang mạch thượng tang
妾意君心誰短長
Thiếp ý quân tâm thuỳ đoản trường

自從別後風沙隴
Tự tùng biệt hậu phong sa lũng
明月知君何處宿
Minh nguyệt tri quân hà xứ túc
古來征戰場
Cổ lai chinh chiến trường
萬里無人屋
Vạn lý vô nhân ốc
風熬熬兮打得人顏憔
Phong ngao ngao hề đả đắc nhân nhan tiều
水深深兮怯得馬蹄縮
Thuỷ thâm thâm hề khiếp đắc mã đề súc
戍夫枕鼓臥龍沙
Thú phu chẩm cổ ngọa Long sa
戰士抱鞍眠虎陸
Chiến sĩ bão yên miên hổ lục
今朝漢下白登城
Kim triêu Hán há Bạch Đăng thành
明日胡窺青海曲
Minh nhật Hồ khuy Thanh Hải khúc
青海曲青山高復低
Thanh Hải khúc thanh sơn cao phục đê
青山前青溪斷復續
Thanh sơn tiền thanh khê đoạn phục tục
青山上雪蒙頭
Thanh sơn thượng tuyết mông đầu
青溪下水沒腹
Thanh khê hạ thuỷ một phúc
可憐多少鐵衣人
Khả liên đa thiểu thiết y nhân
思歸當此愁顏蹙
Tư quy đương thử sầu nhan xúc
錦帳君王知也無
Cẩm trướng quân vương tri dã vô
艱難誰為畫征夫
Gian nan thuỳ vị họa chinh phu
料想良人經歷處
Liệu tưởng lương nhân kinh lịch xứ
蕭關角瀚海隅
Tiêu Quan giác hãn hải ngung
霜村雨店虎落蛇區
Sương thôn vũ điếm, hổ lạc xà khu
風餐露宿雪脛冰鬚
Phong xan lộ túc, tuyết hĩnh băng tu
登高望雲色
Đăng cao vọng vân sắc
安復不生愁
An phục bất sinh sầu

自從別後東南徼
Tự tùng biệt hậu Ðông Nam kiếu
東南知君戰何道
Đông Nam tri quân chiến hà đạo
古來征戰人
Cổ lai chinh chiến nhân
性命輕如草
Tính mệnh khinh như thảo
鋒刃下溫溫挾纊主恩深
Phong nhận hạ ôn ôn hiệp khoáng chủ ân thâm
時刻中歷歷橫戈壯士夭
Thời khắc trung lịch lịch hoành qua tráng sĩ yểu
祈山舊塚月茫茫
Kỳ sơn cựu trủng nguyệt mang mang
淝水新墳風裊裊
Phì thuỷ tân phần phong niểu niểu
風裊裊空吹死士魂
Phong niểu niểu không xuy tử sĩ hồn
月茫茫曾照征夫貌
Nguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạo
征夫貌兮誰丹青
Chinh phu mạo hề thuỳ đan thanh
死士魂兮誰哀弔
Tử sĩ hồn hề thuỳ ai điếu
可憐爭鬪舊江山
Khả lân tranh đấu cựu giang sơn
行人過此情多少
Hành nhân quá thử tình đa thiểu
古來征戰幾人還
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn
班超歸時鬢已斑
Ban Siêu quy thời mấn dĩ ban
料想良人馳騁外
Liệu tưởng lương nhân trì sính ngoại
三尺劍一戎鞍
Tam xích kiếm nhất nhung yên
秋風沙草
Thu phong sa thảo
明月關山
Minh nguyệt quan san
馬頭鳴鏑
Mã đầu minh đích
城上緣竿
Thành thượng duyên can
功名百忙裏
Công danh bách mang lý
勞苦未應閒
Lao khổ vị ưng nhàn
勞與閒誰與言
Lao dữ nhàn thuỳ dữ ngôn
君在天涯妾倚門
Quân tại thiên nhai, thiếp ỷ môn

倚門固妾今生分
Ỷ môn cố thiếp kim sinh phận
天涯豈君平生魂
Thiên nhai khởi quân bình sinh hồn
自信相隨魚水伴
Tự tín tương tuỳ ngư thuỷ bạn
那堪相隔水雲村
Na kham tương cách thuỷ vân thôn
妾身不想為征婦
Thiếp thân bất tưởng vi chinh phụ
君身豈學為王孫
Quân thân khởi học vi vương tôn
何事江南與江北
Hà sự giang Nam dữ giang Bắc
令人愁曉更愁昏
Linh nhân sầu hiểu cánh sầu hôn
一個是風流少年客
Nhất cá thị phong lưu thiếu niên khách
一個是深閨少年婚
Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn
可堪兩年少
Khả kham lưỡng niên thiếu
千里各寒暄
Thiên lý các hàn huyên
憶昔與君相別時
Ức tích dữ quân tương biệt thời
柳條猶未囀黃鸝
Liễu điều do vị chuyển hoàng ly
問君何日歸
Vấn quân hà nhật quy
君約杜鵑啼
Quân ước đỗ quyên đề
杜鵑已逐黃鸝老
Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão
青柳樓前語鷾鴯
Thanh Liễu lâu tiền ngữ ý nhi
憶昔與君相別中
Ức tích dữ quân tương biệt trung
雪梅猶未識東風
Tuyết mai do vị thức Ðông phong
問君何日歸
Vấn quân hà nhật quy
君指桃花紅
Quân chỉ đào hoa hồng
桃花已伴東風去
Đào hoa dĩ bạn Ðông phong khứ
老梅江上又芙蓉
Lão mai giang thượng hựu phù dung
與我約何所
Dữ ngã ước hà sở
乃約隴西岑
Nãi ước Lũng Tây sầm
日中兮不來
Nhật trung hề bất lai
墜葉兜我簪
Trụy diệp đâu ngã trâm
竚立空涕泣
Trữ lập không thế khấp
荒邨喧午禽
Hoang thôn huyên ngọ cầm
與我約何所
Dữ ngã ước hà sở
乃約漢陽橋
Nãi ước Hán Dương kiều
日晚兮不來
Nhật vãn hề bất lai
谷風吹我袍
Cốc phong xuy ngã bào
竚立空涕泣
Trữ lập không thế khấp
寒江起暮潮

昔年寄信勸君回
Tích niên ký tín khuyến quân hồi
今年寄信勸君來
Kim niên ký tín khuyến quân lai
信來人未來
Tín lai nhân vị lai
楊花零落委蒼苔
Dương hoa linh lạc ủy thương đài
蒼苔蒼苔又蒼苔
Thương đài thương đài hựu thương đài
一步閒庭百感催
Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi
昔年回書訂妾期
Tích niên hồi thư đính thiếp kỳ
今年回書訂妾歸
Kim niên hồi thư đính thiếp quy
書歸人未歸
Thư quy nhân vị quy
紗窗寂寞轉斜暉
Sa song tịch mịch chuyển tà huy
斜暉斜暉又斜暉
Tà huy tà huy hựu tà huy
十約佳期九度違
Thập ước giai kỳ cửu độ vi
試將去日從頭數
Thí tương khứ nhật tùng đầu sổ
不覺荷錢已三鑄
Bất giác hà tiền dĩ tam chú
最苦是連年紫塞人
Tối khổ thị liên niên tử tái nhân
最苦是千里黃花戍
Tối khổ thị thiên lý hoàng hoa thú
黃花戍誰無堂上親
Hoàng hoa thú thuỳ vô đường thượng thân
紫塞人誰無閨中婦
Tử tái nhân thuỳ vô khuê trung phụ
有親安可暫相離
Hữu thân an khả tạm tương ly
有婦安能久相負
Hữu phụ an năng cửu tương phụ
君有老親鬢如霜
Quân hữu lão thân mấn như sương
君有嬰兒年且孺
Quân hữu anh nhi niên thả nhụ
老親兮倚門
Lão thân hề ỷ môn
嬰兒兮待哺
Anh nhi hề đãi bộ
供親餐兮妾為男
Cung thân xan hề thiếp vi nam
課子書兮妾為父
Khóa tử thư hề thiếp vi phụ
供親課子此一身
Cung thân khóa tử thử nhất thân
傷妾思君今幾度
Thương thiếp tư quân kim kỷ độ
思君昨日兮已過
Tư quân tạc nhật hề dĩ quá
思君今年兮又暮
Tư quân kim niên hề hựu mộ
君淹留二年三年更四年
Quân yêm lưu nhị niên tam niên cánh tứ niên
妾情懷百縷千縷還萬縷
Thiếp tình hoài bách lũ thiên lũ hoàn vạn lũ
安得在君邊
An đắc tại quân biên
訴妾衷腸苦
Tố thiếp trung trường khổ
妾有漢宮釵
Thiếp hữu Hán cung thoa
曾是嫁時將送來
Tằng thị giá thời tương tống lai
憑誰寄君子
Bằng thuỳ ký quân tử
表妾相思懷
Biểu thiếp tương tư hoài
妾有秦樓鏡
Thiếp hữu Tần lâu kính
曾與郎初相對影
Tằng dữ lang sơ tương đối ảnh
憑誰寄君子
Bằng thùy ký quân tử
照妾今孤另
Chiếu thiếp kim cô lánh
妾有鉤指銀
Thiếp hữu câu chỉ ngân
手中時相親
Thủ trung thời tương thân
憑誰寄君子
Bằng thuỳ ký quân tử
微物寓慇懃
Vi vật ngụ ân cần
妾有搔頭玉
Thiếp hữu tao đầu ngọc
嬰兒年所弄
Anh nhi niên sở lộng
憑誰寄君子
Bằng thuỳ ký quân tử
他鄉幸珍重
Tha hương hạnh trân trọng

昔年音信有來時
Tích niên âm tín hữu lai thời
今年音稀信亦稀
Kim niên âm hy tín diệc hy
見雁枉然思塞帛
Kiến nhạn uổng nhiên tư tái bạch
聞霜漫自製綿衣
Văn sương mạn tự chế miên y
西風欲寄無鴻便
Tây phong dục ký vô hồng tiện
天外憐伊雪雨垂
Thiên ngoại liên y tuyết vũ thuỳ
雪寒伊兮虎帳
Tuyết hàn y hề hổ trướng
雨冷伊兮狼幃
Vũ lãnh y hề lang vi
寒冷般般苦
Hàn lãnh ban ban khổ
天外可憐伊
Thiên ngoại khả lân y
錦字題詩封更展
Cẩm tự đề thi phong cánh triển
金錢問卜信還疑
Kim tiền vấn bốc tín hoàn nghi
幾度黃昏時
Kỷ độ hoàng hôn thời
重軒人獨立
Trùng hiên nhân độc lập
幾回明月夜
Kỷ hồi minh nguyệt dạ
單枕鬢斜攲
Đơn chẩm mấn tà khi
不關酖與酣
Bất quan trầm dữ hàm
惛惛人似醉
Hôn hôn nhân tự tuý
不關愚與惰
Bất quan ngu dữ nọa
懵懵意如癡
Mộng mộng ý như si
簪斜委鬌髼無奈
Trâm tà uỷ đoả bồng vô nại
裙褪柔腰瘦不支
Quần thối nhu yêu sấu bất chi
晝沈沈午院行如墜
Trú trầm trầm ngọ viện hành như truỵ
夕悄悄湘簾捲又垂
Tịch tiêu tiêu tương liêm quyển hựu thuỳ
簾外窺日出枝頭無鵲報
Liêm ngoại khuy nhật xuất chi đầu vô thước báo
簾中坐夜來心事只燈知
Liêm trung tọa dạ lai tâm sự chỉ đăng tri
燈知若無知
Đăng tri nhược vô tri
妾悲只自悲
Thiếp bi chỉ tự bi
悲又悲兮更無言
Bi hựu bi hề cánh vô ngôn
燈花人影總堪憐
Đăng hoa nhân ảnh tổng kham lân
咿喔雞聲通五夜
Y ốc kê thanh thông ngũ dạ
披拂槐陰度八磚
Phi phất hòe âm độ bát chuyên
愁似海刻如年
Sầu tự hải, khắc như niên
強燃香花魂消檀炷下
Cưỡng nhiên hương hoa hồn tiêu đàn chú hạ
強臨鏡玉筋墜菱花前
Cưỡng lâm kính ngọc cân trụy lăng hoa tiền
強援琴指下驚停鸞鳳柱
Cưỡng viện cầm chỉ hạ kinh đình loan phượng trụ
強調瑟曲中悲遏鴛鴦絃
Cưỡng điều sắt khúc trung bi yết uyên ương huyền
此意春風若肯傳
Thử ý xuân phong nhược khẳng truyền
千金借力寄燕然
Thiên kim tá lực ký Yên Nhiên
燕然未能傳
Yên Nhiên vị năng truyền
憶君迢迢兮路如天
Ức quân thiều thiều hề lộ như thiên

天遠未易通
Thiên viễn vị dị thông
憶君悠悠兮思何窮
Ức quân du du hề tứ hà cùng
懷人處傷心胸
Hoài nhân xứ thương tâm hung
樹葉青霜裡
Thụ diệp thanh sương lý
蛩聲細雨中
Cùng thanh tế vũ trung
霜斧殘兮楊柳
Sương phủ tàn hề dương liễu

鋸損兮梧桐
Vũ cứ tổn hề ngô đồng
鳥返高舂
Điểu phản cao thung
露下低叢
Lộ há đê tùng
寒垣候虫
Hàn viên hậu trùng
遠寺曉鐘
Viễn tự hiểu chung

蟀數聲雨
Tất suất sổ thanh vũ
芭蕉一院風
Ba tiêu nhất viện phong
風裂紙窗穿帳隙
Phong liệt chỉ song xuyên trướng khích
月移花影上簾櫳
Nguyệt di hoa ảnh thướng liêm lung
花前月照月自白
Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch
月下花開花自紅
Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng
月花花月兮影重重
Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng
花前月下兮心忡忡
Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung
千般懶萬事慵
Thiên ban lãn, vạn sự dung
慵女工錦軸恥拋鴛對偶
Dung nữ công cẩm trục sỉ phao uyên đối ngẫu
慵婦巧金針羞刺蝶雌雄
Dung phụ xảo kim châm tu thích điệp thư hùng
慵粧對曉空施粉
Dung trang đối hiểu không thi phấn
慵語終朝悶倚窗倚窗
Dung ngữ chung triêu muộn ỷ song
倚窗復倚窗
Ỷ song ỷ song phục ỷ song
郎君去兮誰為容
Lang quân khứ hề thuỳ vi dung
誰為容兮空盤桓
Thuỳ vi dung hề không bàn hoàn
郎君去兮隔重關
Lang quân khứ hề cách trùng quan
何啻天帝孫
Hà thí Thiên đế tôn
冷落泣銀渚
lãnh lạc khấp Ngân Chử
何啻姮娥婦
Hà thí Hằng Nga phụ
凄凉坐廣寒
thê lương tọa Quảng Hàn
藉愁兮為枕
Tạ sầu hề vi chẩm
煮悶兮為餐
Chử muộn hề vi xan
欲將酒制愁
Dục tương tửu chế sầu
愁重酒無力
Sầu trọng tửu vô lực
欲將花解悶
Dục tương hoa giải muộn
悶壓花無顏
Muộn áp hoa vô nhan
愁悶總為愁悶誤
Sầu muộn tổng vi sầu muộn ngộ
悶愁化作九泉灘
Muộn sầu hóa tác cửu tuyền than

試瓊笙兮不成響
Thí quỳnh sanh hề bất thành hưởng
抱銀箏兮不忍彈
Bão ngân tranh hề bất nhẫn đàn
思遠塞兮行路難
Tư viễn tái hề hành lộ nan
念征夫兮囊索單
Niệm chinh phu hề nang tác đơn
鵑聲啼落關情淚
Quyên thanh đề lạc quan tình lệ
樵鼓敲殘帶憊肝
Tiều cổ xao tàn đái bại can
不勝憔悴形骸軟
Bất thăng tiều tụy hình hài nhuyễn
始覺睽離滋味酸
Thủy giác khuê ly tư vị toan
滋味酸兮更辛酸
Tư vị toan hề toan cánh tân
酸辛端的為良人
Toan tân đoan đích vị lương nhân
為良人兮雙妾淚
Vị lương nhân hề song thiếp lệ
為良人兮隻妾身
Vị lương nhân hề chích thiếp thân
妾身不到君征帳
Thiếp thân bất đáo quân chinh trướng
妾淚不到君征巾
Thiếp lệ bất đáo quân chinh cân
惟有夢魂無不到
Duy hữu mộng hồn vô bất đáo
尋君夜夜到江津
Tầm quân dạ dạ đáo giang tân
尋君兮陽台路
Tầm quân hề Dương Đài lộ
會君兮湘水濱
Hội quân hề Tương thuỷ tân
記得幾番歡會處
Ký đắc kỷ phiên hoan hội xứ
無非一枕夢中春
Vô phi nhất chẩm mộng trung xuân
此身反恨不如夢
Thử thân phản hận bất như mộng
隴水函關與子親
Lũng Thuỷ, Hàm Quan dữ tử thân
夢去每憎驚更斷
Mộng khứ mỗi tăng kinh cánh đoạn
夢回又慮幻非真
Mộng hồi hựu lự huyễn phi chân
惟有寸心真不斷
Duy hữu thốn tâm chân bất đoạn
未嘗頃刻少離君
Vị thường khoảnh khắc thiểu ly quân
心不離君未見君
Tâm bất ly quân vị kiến quân
凭高幾度望征輪
Bằng cao kỷ độ vọng chinh luân
望君何所見
Vọng quân hà sở kiến
江洲滿白蘋
Giang châu mãn bạch tần
燕草披青縷
Yên thảo phi thanh lũ
秦桑染綠雲
Tần tang nhiễm lục vân
南來井邑半兵塵
Nam lai tỉnh ấp bán binh trần
落日平沙鷺一群
Lạc nhật bình sa lộ nhất quần
望君何所見
Vọng quân hà sở kiến
官路短長亭
Quan lộ đoản trường đình
雲間吳樹暗
Vân gian Ngô thọ ám
天際蜀山青
Thiên tế Thục sơn thanh
北來禾黍半荒城
Bắc lai hoà thử bán hoang thành
微雨江樓笛一聲
Vi vũ giang lâu địch nhất thanh

望君何所見
Vọng quân hà sở kiến
崆山葉做堆
Không sơn diệp tố đôi
自飛青野雉
Tự phi thanh dã trĩ
自舞隔江梅
Tự vũ cách giang mai
東去煙嵐慘不開
Đông khứ yên lam thảm bất khai
西風飄薄鳥聲哀
Tây phong phiêu bạc điểu thanh ai
望君何所見
Vọng quân hà sở kiến
河水曲如鉤
Hà thủy khúc như câu
長空數點雁
Trường không sổ điểm nhạn
遠浦一歸舟
Viễn phố nhất quy châu
西去松楸接斷蕪
Tây khứ tùng thu tiếp đoạn vu
行人微沒隔蒼洲
Hành nhân vi một cách thương châu
望盡天頭又地頭
Vọng tận thiên đầu hựu địa đầu
幾日登樓更下樓
Kỷ nhật đăng lâu cánh há lâu
凍雲阻盡相思眼
Đống vân trở tận tương tư nhãn
何處玉關征戰陬
Hà xứ Ngọc quan chinh chiến tưu
恨無長房縮地術
Hận vô trường phòng súc địa thuật
恨無仙子擲巾符
Hận vô tiên tử trịch cân phù
有心誠化石
Hữu tâm thành hóa thạch
無淚可登樓
Vô lệ khả đăng lâu
回首長堤楊柳色
Hồi thủ trường đề dương liễu sắc
悔教夫婿覓封侯
Hối giao phu tế mịch phong hầu
不識離家千里外
Bất thức ly gia thiên lý ngoại
君心有似妾心不
Quân tâm hữu tự thiếp tâm phầu
君心倘與妾心似
Quân tâm thảng dữ thiếp tâm tự
妾亦於君何怨尤
Thiếp diệc ư quân hà oán vưu
妾心如花常向陽
Thiếp tâm như hoa thường hướng dương
只怕君心如流光
Chỉ phạ quân tâm như lưu quang
流光一去不復照
Lưu quang nhất khứ bất phục chiếu
花為流光黃又黃
Hoa vị lưu quang hoàng hựu hoàng
花黃更向誰邊笑
Hoa hoàng cánh hướng thuỳ biên tiếu
流光不肯一迴照
Lưu quang bất khẳng nhất hồi chiếu
黃花卻為流光老
Hoàng hoa khước vi lưu quang lão
黃花老兮落滿墻
Hoàng hoa lão hề lạc mãn tường
花落如今經幾霜
Hoa lạc như kim kinh kỷ sương

庭蘭兮已摘
Đình lan hề dĩ trích
江藻兮又芳
Giang tảo hề hựu phương
攝衣步前堂
Nhiếp y bộ tiền đường
仰目觀天章
Ngưỡng mục quan thiên chương
纖雲時彷彿
Tiêm vân thời phảng phất
北斗忽低昂
Bắc đẩu hốt đê ngang
河水翻明滅
Hà thuỷ phiên minh diệt
參躔乍現藏
Sâm triền sạ hiện tàng
月照兮我床
Nguyệt chiếu hề ngã sàng
風吹兮我牆
Phong xuy hề ngã tường
玉顏隨年削
Ngọc nhan tuỳ niên tước
丈夫猶他方
Trượng phu do tha phương
昔為形與影
Tích vi hình dữ ảnh
今為參與商
Kim vi Sâm dữ Thương
君邊雲擁青絲騎
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
妾處苔生嚮屧廊
Thiếp xứ đài sinh Hưởng điệp lang
廊內春風日將歇
Lang nội xuân phong nhật tương yết
可憐誤盡良時節
Khả lân ngộ tận lương thời tiết
良節姚黃魏紫嫁東風
Lương thời tiết Diêu hoàng Nguỵ tử giá Ðông phong
良時節織女牛郎會明月
Lương thời tiết Chức nữ Ngưu lang hội minh nguyệt
昨日未笄西家娘
Tạc nhật vị kê Tây gia nương
今年已歸東鄰倩
Kim niên dĩ quy Ðông lân thiến
可怜兔守一空房
Khả linh thố thủ nhất không phòng
年年誤盡良時節
Niên niên ngộ tận lương thời tiết
良時節兮忽如梭
Lương thời tiết hề hốt như thoa
人世青春容易過
Nhân thế thanh xuân dung dị qua
況復是春悶未消秋恨續
Huống phục thị xuân muộn vị tiêu thu hận tục
況復是合歡更少別愁多
Huống phục thị hợp hoan cánh thiểu biệt sầu đa
別愁秋恨兩相磨
Biệt sầu thu hận lưỡng tương ma
蒲柳青青能幾何
Bồ liễu thanh thanh năng kỷ hà
空嘆惜淚咨嗟
Không thán tích lệ tư ta
只怕白到文君頭空嘆惜
Chỉ phạ bạch đáo Văn Quân đầu không thán tích
只恐花到潘郎鬢浪咨嗟
Chỉ khủng hoa đáo Phan lang mấn lãng tư ta
嘆惜何以為顏色猶紅如嫩花
Thán tích hà dĩ vi Nhan sắc do hồng như nộn hoa
咨嗟何以為
Tư ta hà dĩ vi
光陰一擲無回戈
Quang âm nhất trịch vô hồi qua
咨命薄惜年花
Tư mệnh bạc tích niên hoa
紛紛少婦幾成皤
Phân phân thiếu phụ kỷ thành bà
香閣重懷陪笑臉
Hương các trùng hoài bồi tiếu kiểm
花樓尚記解香羅
Hoa lâu thượng ký giải hương la
恨天不與人方便
Hận thiên bất dữ nhân phương tiện
底事到今成坎坷
Để sự đáo kim thành khảm kha
坎坷坎坷知奈何
Khảm kha khảm kha tri nại hà
為妾嗟兮為君嗟
Vị thiếp ta hề vị quân ta

君不見野外雙鴛鴦
Quân bất kiến dã ngoại song uyên ương
甘心不忍兩分張
Cam tâm bất nhẫn lưỡng phân trương
又不見樑間雙燕燕
Hựu bất kiến lương giang song yến yến
白首何曾忘眷戀
Bạch thủ hà tằng vong quyến luyến
鶼鶼也無情
Kiêm kiêm dã vô tình
比翼相隨過一生
Tỷ dực tương tuỳ quá nhất sinh
蛩蛩也無知
Cùng cùng dã vô tri
並驅到老不相違
Tịnh khu đáo lão bất tương vi
路柳曾傳連理處
Lộ liễu tằng truyền liên lý xứ
池蓮亦有並頭時
Trì liên diệc hữu tịnh đầu thời
負蟨兮駏驉
Phụ quyết hề cự hư
抱蘿兮菟絲
Bão la hề thố ty
何人生之相違
Hà nhân sinh chi tương vi
嗟物類之如斯
Ta vật loại chi như tư
安得在天為比翼鳥
An đắc tại thiên vi tỷ dực điểu
在地為連理枝
Tại địa vi liên lý chi
寧甘死相見
Ninh cam tử tương kiến
不忍生相離
Bất nhẫn sinh tương ly
雖然死相見
Tuy nhiên tử tương kiến
曷若生相隨
Hạt nhược sinh tương tuỳ
安得君無老日
An đắc quân vô đáo lão nhật
妾常少年
Thiếp thường thiếu niên
願為影兮隨君邊
Nguyện vi ảnh hề tuỳ quân biên
君有行兮影不遠
Quân hữu hành hề ảnh bất viễn
君依光兮妾如願
Quân y quang hề thiếp như nguyện
願君許國心如丹
Nguyện quân hứa quốc tâm như đan

願君庇民身如鐵
Nguyện quân tỳ dân thân như thiết
饑來吞下月氏頭
Cơ lai thôn hạ Nhục Chi đầu
渴來飲下單于血
Khát lai ẩm hạ Thiền Vu huyết
何幸期門鋒刃中
Hà hạnh Kỳ môn phong nhẫn trung
老天著意護英雄
Lão thiên trước ý hộ anh hùng
護英雄百戰功
Hộ anh hùng bách chiến công
長驅駟馬靜關東
Trường khu tứ mã tịnh Quan Ðông
關東關北休傳箭
Quan Đông Quan Bắc hưu truyền tiễn
山尾山頭早掛弓
Sơn vĩ sơn đầu tảo quải cung
捷色旌旗辭塞月
Tiệp sắc tinh kỳ từ tái nguyệt
凱歌將士背邊風
Khải ca tướng sĩ bối biên phong
勒詩兮燕然石
Lặc thi hề Yên Nhiên thạch
獻馘兮未央宮
Hiến quắc hề Vị Ương cung
未央宮兮向天朝
Vị Ương cung hề hướng thiên triều
挽銀河兮洗刀弓
Vãn Ngân hà hề tẩy đao cung
詞人刪下平淮頌
Từ nhân san hạ Bình Hoài Tụng
樂府歌傳入漢謠
Nhạc phủ ca truyền nhập Hán dao
凌煙閣兮秦叔寶
Lăng Yên các hề Tần Thúc Bửu
麒麟台兮霍嫖姚
Kỳ Lân đài hề Hoắc Phiêu Diêu
天長地久茅苴券
Thiên trường địa cửu mao thư khoán
子蔭妻封爵祿標
Tử ấm thê phong tước lộc tiêu
有愁兮此日
Hữu sầu hề thử nhật
得意兮來時
Đắc ý hề lai thời

妾非蘇家癡心婦
Thiếp phi Tô gia si tâm phụ
君亦洛陽好男兒
Quân diệc Lạc dương hảo nam nhi
歸來倘佩黃金印
Quy lai thảng bội hoàng kim ấn
肯學當年不下機
Khẳng học đương niên bất há ky
願為君兮解征衣
Nguyện vi quân hề giải chinh y
願為君兮捧霞巵
Nguyện vi quân hề bổng hà chi
為君梳櫛雲鬟髻
Vi quân sơ trất vân hoàn kế
為君粧點玉臙脂
Vi quân trang điểm ngọc yên chi
君看兮舊淚帕
Thủ quân khan hề cựu lệ phạ
訴君聽兮舊情詞
Tố quân thính hề cựu tình từ
舊情詞兮換新聯
Cựu tình từ hề hoán tân liên
語新話舊兮酒杯前
Ngữ tân thoại cựu hề tửu bôi tiền

斟兮慢慢
Thiển châm hề mạn mạn
底唱兮連連
Đê xướng hề liên liên
斟不斟兮蒲城釀
Châm bất châm hề Bồ thành nhưỡng
唱不唱兮紫騮篇
Xướng bất xướng hề Tử lưu thiên
願斟九醞兮唱雙聯
Nguyện châm cửu uấn hề xướng song liên
與君整頓兮舊姻緣
Dữ quân chỉnh đốn hề cựu nhân duyên
交頸成雙到老天
Giao kỉnh thành song đáo lão thiên
償了功名離別債
Thường liễu công danh ly biệt trái
憐相守太平年
Tương liên tương thủ thái bình niên
太平年願君止戈置
Thái bình niên nguyện quân chỉ qua trí
若然此別妾何淚
Nhược nhiên thử biệt thiếp hà lệ
將會之期將寄言
Tương hội chi kỳ tương ký ngôn
嗟乎丈夫當如是
Ta hồ trượng phu đương như thị.

Tiến sĩ Bae Yang Soo

Chinh Phụ Ngâm Khúc, một tuyệt tác của văn học cổ Việt Nam vừa được Tiến sĩ Bae Yang Soo, Giáo sư khoa Tiếng Việt, Trường Đại học Ngoại ngữ Busan (Hàn Quốc) dịch sang tiếng Hàn Quốc.

Thơ càng hay, tiếng Việt càng điêu luyện thì càng… khó dịch ra một thứ tiếng khác. Nhưng có một học giả Hàn Quốc không sợ cái khó ấy và vô vàn cái khó khác (chẳng hạn khó có nơi nhận in, khó bán, khó có người đọc, khó nổi tiếng…), vẫn kiên nhẫn mày mò dịch bằng được áng thơ Chinh Phụ Ngâm Khúc sang một ngôn ngữ khác hẳn tiếng Việt.

Đó là Tiến sĩ Bae Yang Soo, Giáo sư khoa Tiếng Việt, Trường đại học Ngoại ngữ Busan, Hàn Quốc. Bae sinh năm 1958, có tên VN là Bùi Lương Tú. Đây không phải cái tên tự đặt hoặc bạn bè đặt cho mà là tên khai sinh của anh, viết bằng chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt.

Chinh Phụ Ngâm Khúc, nguyên tác chữ Hán của hương cống (cử nhân) Đặng Trần Côn (1710?-1750?) khi chưa được diễn Nôm đã rất nổi tiếng. Tương truyền có một thầy tướng Trung Quốc cùng thời, sau khi đọc 483 câu thơ quán thông hết những danh cú từ đời Hán đến đời Đường đã thất kinh mà than rằng: người nào đã rút hết gan ruột mà làm nên áng văn này, e khó mà thọ lâu! Quả nhiên, chỉ ít lâu sau, Đặng tiên sinh từ trần ở tuổi 40 (theo khảo cứu của cố học giả Hoàng Xuân Hãn)!

Bản chữ Hán nổi tiếng như vậy nhưng còn thua xa sự nổi tiếng của bản diễn Nôm, tương truyền là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748). Có lẽ bất cứ người Việt nào, đã qua bậc học phổ thông, ngoài Truyện Kiều, hẳn còn nhớ ít ra là một vài khổ thơ Chinh Phụ Ngâm?

Cái “chàng TS” đầy hăm hở của một thời xa lắc xa lơ ấy ăn mặc mới đẹp làm sao “áo chàng đỏ tựa ráng pha/ ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Chàng đi lập công danh như thế, để nhớ để buồn cho người vợ trẻ ở nhà mòn mỏi ngóng trông: Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não/ Từ nữ công phụ xảo đều nguôi/ Biếng cầm kinh biếng đưa thoi/ Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa/ Mặt biếng tô miệng càng biếng nói/ Sớm lại chiều dòi dõi nương song/ Nương song luống ngẩn ngơ lòng/ Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai…

Chinh Phụ Ngâm có những câu thơ hay mà Xuân Diệu từng biểu dương là “không chịu nhường” cả Truyện Kiều vĩ đại, chẳng hạn cái câu tả cảnh này: Hình khe thế núi gần xa/ Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao!

Người Hàn Quốc trước thế kỷ 15 đều dùng chữ Hán và dường như chỉ có giới quý tộc, trí thức là biết chữ. Năm 1446, vua Sejong và các học giả dưới quyền sáng tạo ra một thứ chữ, trông nhang nhác chữ Hán (cũng có thể viết theo khối vuông) nhưng là chữ ghi âm 100%, gồm 28 ký tự được dùng rộng rãi cho đến ngày nay. Đó là thứ chữ mà các học giả gọi là chữ Nôm Hàn (phân biệt với chữ Hán Hàn). Nôm Hàn xuất hiện gần như cùng thời với chữ Nôm Việt (thế kỷ 15, với Quốc âm thi tậpcủa Nguyễn Trãi, 1380-1442) nhưng có vận mệnh dài hơn, ngày nay nó vẫn là văn tự chính thức của người Triều Tiên, cả Bắc và Nam.Công việc của Bae Yang Soo là chuyển một bản Nôm Việt sang một bản Nôm Hàn! Tất nhiên anh không cần kì công đọc thẳng vào bản Nôm Việt (rất khó, ngay cả với tuyệt đại đa số người Việt bây giờ!), đã có các học giả VN (Lại Ngọc Cang, Hoàng Xuân Hãn, Tôn Thất Lương…) phiên âm sang quốc ngữ từ lâu.

Cuốn sách của Bae Yang Soo, bởi vậy, chỉ có ba văn bản (bản dịch chữ Hàn, bản chữ quốc ngữ, nguyên bản chữ Hán của Đặng Trần Côn).

Giá như thêm một bản chữ Nôm Việt nữa thì độc giả Hàn Quốc, nhất là giới nghiên cứu, sẽ có một tập tư liệu thật đầy đủ. Phải chăng Bae Yang Soo gặp khó khăn trong việc in ấn chữ Nôm Việt? Nếu đúng là như vậy thì tôi xin mách anh tham khảo cuốn Chinh Phụ Ngâm Hán Nôm hợp tuyển do Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng biên soạn, Nguyễn Đình Thảng hiệu đính (Nhà xuất bản Thuận Hoá, 2000).

Các soạn giả đã tạo lập được phần mềm chữ Nôm Việt trên máy vi tính, chữ in rất rõ, rất nét, không thua gì chữ Hán, có thể dùng để phục dựng, in ấn tất cả các tài liệu Nôm hiện có (trước đó, mỗi khi muốn in một tài liệu chữ Nôm người ta vẫn phải viết tay. Cuốn Đại từ điển chữ Nôm của cụ Vũ Văn Kính in năm 1999, hơn 1.500 trang, tất cả các chữ Nôm đều viết tay!).

Bae yêu văn học Trung đại VN, yêu Đặng Trần Côn, yêu Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Dịch thơ đã khó, dịch thơ cổ khó gấp hai lần, riêng việc đọc cho vỡ những điển cố đã đủ ù tai rồi! Thế mà Bae còn phải làm sao giữ được nhịp điệu cho khúc ngâm nữa! Chẳng hiểu thể thơ song thất lục bát chuyển sang tiếng Hàn Quốc thì phải xoay sở thế nào, chỉ biết bản thơ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm (do Nguyễn Thạch Giang phiên âm) có 408 dòng thì bản chữ Hàn của Bae Yang Soo cũng có đúng… 408 câu!

Văn học VN không xa lạ với Hàn Quốc

Trước tết Giáp Thân ít ngày, tôi gặp tiến sĩ Bae Yang Soo tại khách sạn Lake Side, Hà Nội. Bùi Lương Tú, người có cái tên rất Việt ấy, lại là một người phương Bắc điển hình: cao lớn, mắt một mí, nói năng có sự cẩn trọng của một học giả (và cũng vì là lần tiếp xúc đầu tiên nữa?). Qua Bae, tôi được biết văn học VN không đến nỗi quá xa lạ với bạn đọc Hàn Quốc.

Từ năm 1906, cuốn Việt Nam vong quốc sử, (Lịch sử mất nước của Việt Nam) của cụ Phan Bội Châu đã được dịch sang tiếng Hàn Quốc, mà có tới ba bản dịch khác nhau lưu hành!

Hơn 60 năm sau (1968) tác phẩm văn học thứ hai, tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng được một… đại uý từng tham chiến ở VN dịch. Năm 1986, dưới chính thể độc tài Chun Do Hoan, sinh viên sôi sục biểu tình, người ta thấy xuất hiện thêm bản dịch những tác phẩm VN có đề tài tranh đấu như Áo trắng của Nguyễn Văn Bổng, Sống như Anh của Trần Đình Vân! Năm 1990, thêm Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài). Gần 10 năm sau (1999) là các tác phẩm trung đại: Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh- Kiều Phú).

Năm 2003, bạn đọc Hàn lại được thưởng thức hai tác phẩm lớn của văn học VN: Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh) và Chinh Phụ Ngâm Khúc. Một cuốn tiểu thuyết của Văn Lê về đề tài chiến tranh mang tên Nếu anh còn sống cũng được nhiều người tìm đọc.

Triển vọng của mối giao lưu văn hoá Việt-Hàn khá sáng sủa. Bae Yang Soo cho biết: Thanh niên Hàn Quốc hiện nay rất thích học tiếng Việt vì cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp rất nhiều. Trường ngoại ngữ Busan của anh dạy 16 thứ tiếng, chia ra 40 khoa, có 7.500 sinh viên.Sinh viên khoa tiếng Việt đông thứ tư, còn người dự thi vào khoa tiếng Việt hằng năm đông thứ hai, chỉ sau khoa tiếng Anh! Bae khá ung dung với công việc giảng dạy tiếng Việt của mình. Bản dịch Chinh Phụ Ngâm của anh cũng do nhà trường xuất bản.

Anh sang VN lần này là để tìm tài liệu cho chuyên luận mới: “Bi kịch kinh tế thị trường qua truyện ngắn Việt Nam”, một đề tài hay!

Theo Tiền Phong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s