Tôi viết chữ nôm

Vì nhiều lý do khá tinh tế tôi đã xoá nhiều bài viết ưng ý của mình mà đến bây giờ tôi rất tiếc. Hiện nay tôi vẫn còn  một số bài, sợ rằng sau này sẽ khó lòng mà viết lại được nên tôi định sẽ chuyển chúng sang chữ nôm để lưu giữ.

Khi tôi học lớp 11, giáo sư dạy văn học sử cho chúng tôi là một giáo sư còn rất trẻ tên là Quan Trung Hiếu (người Việt gốc Hoa). Trong buổi dạy đầu tiên ông đã đọc 2 câu ca dao:

Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em

Tôi rất thích hai câu này và rất thán phục ông (vì ông là người Hoa mà lại có tâm hồn của người Việt, vả lại 14 chữ nói trên không có chữ nào là từ Hán-Việt). Sau đó ông viết tên mình lên bảng là 關忠孝. Tiếp theo thầy Hiếu giới thiệu về chữ nôm, ông cũng viết mẫu cho chúng tôi coi và nói thêm rằng đó là thứ chữ hi hữu mà người Hoa nhìn vào chẳng biết là chữ gì, trong khi đó chữ Hàn và chữ Nhật nhìn vào là biết ngay (xem 4 chữ đại diện ở dưới).

Năm 2001 Hàn Thế Thành tặng cho tôi cuốn sách tên là CJKV Information Processing (Chinese-Japanese-Korean-Vietnamese) trong đó  tiếng Việt (chữ nôm) được liệt kê   trong nhóm này. Ý Thành muốn tôi dùng \LaTeX để viết chữ nôm, tôi chưa thực hiện được, chắc phải đợi đến khi nghỉ hưu.

Đã từng có ý tưởng rằng nếu người Việt vẫn tiếp tục sử dụng chữ Nôm (như thời vua Quang Trung và sau này là nhà Nguyễn) thì biết đâu Việt Nam bây giờ có thể sánh vai với ba quốc gia còn lại về mọi phương diện.

Bắt chước các nhà nghiên cứu Hán-Nôm, tôi kết thúc bài mở đầu này bằng việc giới thiệu 6 câu đầu tiên trong cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du:


𤾓 𢆥 𥪝 𡎝 𠊛 嗟
𡨸 才 𡨸 命 窖 羅 恄 饒
𣦆 戈 沒 局 𣷭 橷
仍 調 𥉫 𧡊 罵 忉 疸 𢚸
邏 之 彼 色 私 豐
𡗶 青慣 退 𦟐 紅 打 慳

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Về phương diện toán học các ký tự trên xếp thành một ma trận 6 dòng 8 cột, chỗ trống coi như không. Tôi ký hiệu Nij là ký tự nằm ở dòng i và cột j.

  • N11 phía trên là chữ bách (một trăm, nghĩa), phía dưới là chữ lâm (rừng, âm), ta có chữ trăm. Trăm là một chữ nôm, ví dụ ta có câu ca dao:
    Trăm năm trăm tuổi
    may rủi một chồng
    Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai
  • N12 bên trái là chữ Nam (phía nam, âm) bên phải là chữ Niên (năm, nghĩa) ta có chữ năm (year) / không phải số 5 do nghĩa.
  • N13 bên trái là chữ Long (con rồng, âm) bên phải là chữ Trung (ở giữa, nghĩa) ta có chữ trong  (ở bên trong) / không phải là chữ “trong” 𤄯:  trong sạch, trong suốt do nghĩa.
    N43 bên trái là chữ Long (con rồng, âm) bên phải là chữ Mục (con mắt, nghĩa) ta có chữ trông  / Buồn trông cửa bể chiều hôm

    Gái lớn ai không phải lấy chồng
    Can chi mà khóc, nín đi không!
    Nín đi mặc áo ra chào họ
    Rõ quí con tôi, các chị trông


    hay
    Em về thương lấy mẹ già
    Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công
    Chị giờ sống cũng bằng không
    Coi như chị đã sang sông đắm đò
  • Chữ 𡎝 cõi
  • Chữ 𠊛 rất đặc biệt, bên trái là chữ  (một từ cổ của từ  đắc), bên phải là chữ nhân, tạo thành chữ   𠊛 người, bên phải bộ nhân  tạo thành chữ 𠊚 ngài.
  • N16 lấy nguyên chữ Hán  ta, có nghĩa là than thở, như hu ta 吁嗟  than ôi ! và đọc là ta (người ta, chúng ta)
  • N26 lấy nguyên chữ Hán: chữ 羅  La nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là “Là, một thứ dệt bằng tơ mỏng để mặc mát”. 紅羅襦 hồng la nhu, cái (áo) yếm màu đỏ

    君知妾有夫,贈妾雙明珠。感君纏綿意,繫在紅羅襦。

    Quân tri thiếp hữu phu
    Tặng thiếp song minh châu
    Cảm quân triền miên ý
    hệ tại hồng la nhu

    Anh nghe em đã sang ngang
    Tặng em đôi ngọc sáng choang làm quà
    Cảm anh ý hướng đậm đà
    đeo trong yếm thắm gọi là tình thâm

    Chữ nôm đọc luôn chữ đó là là, chữ tài chữ mệnh khéo ghét nhau.
    N51 chữ La 羅 thêm bộ “xuy” (một kiểu giống như tiếp đầu ngữ) đọc là “lạ” như người lạ, lạ gì …

  • N28 lấy nguyên chữ Hán: chữ 饒  nhiêu và đọc là nhau. Cũng đọc là nhiều(tùy ngữ cảnh).
  • N52 lấy nguyên chữ Hán: chữ 之 Chi, không có nghĩa tương ứng trong tiếng Việt. Trong Hán ngữ là một hình thức sở hữu cách: nhân chi sơ (con người ta lúc mới sinh). Chữ nôm đọc luôn chữ đó là gì, lạ bĩ sắc tư phong.
  • N55 lấy nguyên chữ hán: chữ 私 nghĩa là riêng, cái gì không phải là của công đều gọi là tư  như tư tài 私財 của riêng, tư sản 私產   cơ nghiệp riêng … Chữ nôm đọc luôn là và cũng có nghĩa đó. Nhật ngữ, lấy chữ 私 đọc là watashi (tôi). 私は日本人です watashi wa nihon jin desu. Tôi là người Nhật bản.
  • N32 lấy nguyên chữ Hán nhưng qua 戈  trong chữ Hán nghĩa là cái mác (một loại vũ khí), hay can qua 干戈  đánh nhau, còn trong chữ nôm đọc là qua, nghĩa là “đã qua“.

  • N33 lấy nguyên chữ Hán nhưng chữ một 沒 trong Hán ngữ có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là “không có“, chế nhạo người không biết chữ gọi là một tự bi 沒字碑  ý nói trong lòng không có một chữ nào. Chữ nôm đọc là một và nghĩa là số 1.

  • N34 lấy nguyên chữ Hán là 局 (Cục), có nhiều nghĩa, ví dụ chia làm từng bộ phận riêng đều gọi là cục; như việc quan chia riêng từng bọn để làm riêng từng việc gọi là chuyên cục 専局, cho nên người đương sự gọi là đương cục 當局  người đang cuộc, cục nội 局內  trong cuộc, cục ngoại 局外  ngoài cuộc; nghề đánh bạc cũng chia mỗi người một việc cho nên cũng gọi là cục, mỗi một ván cờ gọi là một cục (một cuộc). Chữ nôm đọc trại thành cuộc
    Khi chén rượu khi cuộc cờ
    Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

  • N35 Bên trái là bộ thuỷ (nước, nghĩa), bên phải là chữ bỉ (lấy âm) và đọc là bể (biển)
    N53 chữ bỉ. Trong Hán ngữ chữ bỉ 彼 nghĩa là bên kia; là tiếng trái lại với chữ thử như bất phân bỉ thử 不分彼此  chẳng phân biệt được đấy với đây.
    Thành ngữ bỉ sắc tư phong, nghĩa là cái kia kém thì cái này hơn, được hơn điều này thì bị kém điều kia

  • N44 bên trên là chữ thể (thân thể, không biết ý gì!), bên dưới là chữ kiến (thấy, nghĩa). Chữ nôm là thấy.

  • N47 bên trong là chữ đán (buổi sáng, âm), bên ngoài là bộ nạch 疒 (tật bệnh, nghĩa/ý), chữ nôm là đớn.
    Chữ đớn thường đi với chữ đau hoặc chữ hèn để lập thành từ kép: đau đớn, đớn hèn.

    Chữ đán 旦 là một chữ tượng hình, ở trên là chữ nhật (mặt trời), ở dưới là một đường gạch ngang (chữ nhất), ý muốn nói mặt trời vừa mọc nên có nghĩa là sớm, lúc trời mới sáng gọi là đán, như xuân đán 春旦  buổi sáng mùa xuân.

    元 旦 nguyên đán, buổi sáng đầu tiên của năm (sáng mồng một tháng giêng).
    元宵 nguyên tiêu, rằm tháng giêng. Chữ tiêu có nghĩa là đêm (trăng rằm), như trung tiêu 中 宵  nửa đêm. Nguyễn Du 阮攸  có bài thơ nhan đề là Quỳnh Hải nguyên tiêu 瓊海元宵  Đêm rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải.

  • N61 bên trên là chữ thiên (trời, nghĩa), bên dưới là chữ thượng (ở trên, nghĩa), chữ nôm là trời

  • N62 lấy nguyên chữ Hán là chữ thanh đọc là xanh

  • N63 Chữ 貫 có nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là “quen”, như ngã bất quán dữ tiểu nhân thặng 我不貫與小人乘  (Mạnh Tử 孟子) tôi không quen cùng kẻ tiểu nhân cùng cưỡi xe. Bên trái thêm bộ “tâm” ra chữ nôm đọc là quen

  • N64 Lấy nguyên chữ Hán là chữ thoái 退 nghĩa là lui như thoái binh 退兵  lui binh, tiến thoái lưỡng nan 進退两難, tới không được mà lui cũng không được. Chữ nôm đọc trại thành chữ thói: thói quen, thói đời …

  • N65 ở trên trái là bộ nhục (thịt, không biết ý làm gì!) ở bên phải là chữ mã (con ngựa, âm) đọc là (hai cái má ở trên mặt), không phải là má (mẹ).

  • N26 ở trên trên là chữ tứ (số 4, không biết ý làm gì!) ở bên dưới là chữ mã (con ngựa, âm) đọc là Nếu con đổi thời gian được
    đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười
  • N66 hồng là từ Hán-Việt.

  • N67 lấy nguyên chữ Hán là 打 đả, nghĩa là đánh. Chữ nôm đọc luôn là đánh.

  • N67 bên trái là bộ tâm (con tim, nghĩa) bên phải là chữ kiên 堅  (bền chặt, âm) và đọc là ghen.

    N27 bên trái là bộ tâm (con tim, nghĩa) bên phải là chữ cát 吉 (lành, âm) và đọc là ghét.

    N45 bên trái là bộ tâm (con tim, nghĩa) bên phải là chữ đao 刀( một loại vũ khí, âm) và đọc là đau.

Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình anh em.

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố bám ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
𡎝

Advertisements

6 responses to “Tôi viết chữ nôm

  1. Em đang tìm hiểu về chữ Nôm. Thầy cho em copy bài này. Cám ơn.

    • Dạ thầy ơi, em đang rất muốn học chữ nôm, nhưng không biết bắt đầu từ đâu, thầy có thể giới thiệu cho em một số tài liệu không ạ
      Em cảm ơn

      • Trước mắt em học chữ hán trước. Sách Hán Văn Trần Trọng San. Khi biết khoảng 500 từ thầy mới nói tiếp học chữ nôm như thế nào.

      • Dạ vâng, sách hán văn đó là tiếng Trung phải không thầy, học cả cách đọc nữa sao ạ? hay là chỉ là hán tự thôi ạ? sách có bán ở nhà sách không thầy? Em cảm ơn

      • sách dạy Hán văn dành cho học sinh trung học và Sinh viên đại học Việt Nam trước năm 1975. Bạn nên tìm file pdf của quyển sách.

  2. Em chào thầy! Em đã học tiếng Hán được một thời gian rồi, bây giờ em muốn học chữ Nôm của người Việt mình, nhờ Thầy giới thiệu cho em có giáo trình nào tự học chữ Nôm không ạ ?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s