Đạo là gì?

Đạo là gì?

Đạo đức kinh quả là cuốn kinh thánh của Lão giáo. Trong nhiều chục năm qua ở Việt Nam, khảo cứu về Đạo Đức Kinh không nhiều. Cho tới bây giờ, chúng ta thấy có bản dịch của Thu giang Nguyễn Duy Cần và bản dịch của Nguyễn Hiến Lê. Bài viết sau đây có thể được xem như là bài giảng của Nguyễn Duy Cần về Lão tử Đạo đức kinh, bàn về Đạo 道.

Có lẽ Lão Tử là người đầu tiên trong các triết gia Trung Quốc đã dùng chữ Đạo để chỉ cái nguyên lý tuyệt đối của Vũ Trụ đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm.
Đạo có thể quan niệm dưới hai phương diện: Vô và Hữu .
Vô, thì Đạo là nguyên lý của trời đất, nguyên lý vô hình.
Hữu, thì Đạo là nguyên lý hữu hình, là Mẹ sinh ra vạn vật:
Vô danh thiên Địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu

無名天地之始, 有名萬物之母

Đạo, là một nguyên lý hoàn toàn huyền diệu siêu hình và bất khả tư nghị. Người ta không thể định danh nó, cho nên gượng mà dùng đến danh từ ấy để tạm chỉ định. Hễ dùng đến danh từ để chỉ định, tức là vật được chỉ định đã bị hạn định, cho nên dùng đến danh, là chỉ để áp dụng cho những phần tử của Đạo bị “phá” ra mà thôi. Nghĩa là chỉ để ám chỉ một khía cạnh nào, một bề mặt hay bề trái nào của cái Đạo Một, cái Đạo “không thể phân chia”.
Cho nên muốn được Đạo, không còn thể dùng đến Lý trí, hiểu biết bằng sự so sánh, mà chỉ có thể hiểu biết được khi nào chính mình thực hiện được nó nơi bản thân:
Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh

道可道非常道, 名可名非常名

(chương 1).

“Đạo mà nói ra được, không còn phải là Đạo “thường” nữa, Danh mà gọi ra được, không còn phải là Danh “thường” nữa”
Như vậy, định cho Sự vật một cái tên ( ) đó chỉ làm cho ta lìa xa với cái “chân diện mục” 真面目 của chúng, tức là cái Chân lý toàn diện của sự vật.
Trong giới sắc tướng, thẩy đều biến động không dừng, không có sự vật nào mà không thay đổi hoặc mau hoặc chậm. Hay nói một cách khác, sự vật là vô thường 無常 . Bởi vậy hạn định nó trong một danh từ “tịnh” là sai. Ở đây ta thấy Lão Tử chống lại với thuyết “chính danh” của Khổng Tử, và đề xướng thuyết “Vô danh”. Nghĩa là Lão Tử quan niệm sự vật trong đời theo sự “thực hiện” của sự vật, nghĩa là cái nhân sinh quan của ông là nhân sinh quan động (dynamique), không còn phải là nhân sinh quan tịnh (statique) nữa.
Không có một danh từ nào, không có một ý tưởng nào, cũng không có một sự phán đoán về giá trị nào mà có thể gọi là Tuyệt đối cả. Thảy đều tương đối, nghĩa là bao giờ cũng có phần đối đãi của nó, tốt và xấu, thiện và ác, thị và phi, dài và ngắn, cao và thấp…
“Hữu vô tương sanh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy”

有無相生, 難易 相成, 長短相形, 高下相傾, 音聲相和, 前後 相 隨

(chương 2)
“Có không cùng sanh, khó dễ cùng thành, ngắn dài cùng sánh, cao thấp cùng chiều, giọng tiếng cùng hoạ, trước sau cùng theo.”
“Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ”

天下皆知美之 爲美, 斯惡已; 皆知善之爲善, 斯不善已 .

“Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi. Đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi”.
Cặp tương đối ấy luôn luôn nằm sẵn trong mọi sự mọi vật, và bất cứ trong đời sống ta lúc nào cũng thấy nó hiện lên và thường gây cho lòng ta nhiều tranh chấp vì mâu thuẫn. Ta há không nhận thấy rằng lòng ta là cả một cái gì “mâu thuẫn” hay sao? Vừa thương mà cũng vừa không thương, vì trong thâm tâm ta cảm thấy mất tự do khi bắt đầu yêu ai một cách tha thiết. Biết bao lần khi lòng thì thuận, mà miệng thì chối từ, hoặc miệng thì “ừ”, mà lòng không thuận! Cái gì đã khiến cho ta vừa cười vừa khóc, và tiếng khóc tiếng cười thường lại giống nhau?…

Phải chăng vì cảm xúc của ta mà lên đến cực độ lại càng giống nhau không thể phân biệt, nhất là trong sự yêu ghét! “Thương nhau lắm, cắn nhau đau”: tình yêu tha thiết thường lại dường như giống với sự oán thù! Cho nên mới nói: “ghét là cái bề trái của cái thương” và thương ghét, tựu trung là một. Đời sống nội tâm của con người khi Đạo bị chia lìa là một bầu “mâu thuẫn”, và vì thế “Sống là khổ”, bởi “thương” là khổ mà “ghét” cũng khổ. Và chỉ khi nào lòng ta không còn chia rẽ nữa, trở về sống được trong cái Sống Một, thì mới mong giải quyết được vấn đề phân chia Nhĩ Ngã. Cho nên, đó là cái học chạy theo thị phi, thiện ác, cái học chi li phân tán, cái học nhị nguyên, cái học mà người muốn trở về với Đạo phải “vứt bỏ”.
Chương 20 có viết: “Tuyệt học vô ưu, duy chi dữ a, tương khứ kỷ hà? Thiện chi dữ ác, tương khứ nhược hà?”

絕學無憂, 唯之與阿, 相去幾何? 善之與惡, 相去若 何?

“Dứt học, không lo. Dạ và ơi khác nhau chỗ nào? Lành với dữ khác nhau ở đâu?”
Lão Tử khuyên ta, nếu muốn được Đạo, đừng có nhìn sự vật bằng cập mắt nhị nguyên chia phân nhĩ ngã, mà phải nhìn thấy thẩy đều là Một. Con người mà càng chạy theo cái học phân tán sẽ bị tâm hồn rối loạn vì hay phân biệt và biện biệt. Cũng vì nhìn đời với cập mắt nhị nguyên nên gặp phúc thì mừng, gặp họa thì buồn, mà không hay rằng phúc đấy họa đấy cũng không chừng, hay họa đấy phúc đấy cũng biết đâu!
“Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề học chi sở phục”

禍兮福之所倚, 福兮禍之所伏

“Hoạ là chỗ dựa của Phúc, Phúc là chỗ dựa của Hoạ.” (Chương 58).
Ôi! Phúc rồi họa, họa rồi phúc… sự vật bao giờ cũng phản biến. Nghĩa là hễ biến, thì biến thành cái đối đích của nó. Tục ngữ của dân gian có câu: “Nay cười, mai khóc”. Và có nhận rõ được cái luật phản biến ấy của sự vật trên đời, thì được không nên vội mừng, mất không nên vội buồn… Nhờ vậy mà lòng mới bình tĩnh thản nhiên trước mọi biến cố của cuộc đời.
Cái mà Lão Tử chống đối là sự nhìn cuộc đời bằng Lý Trí, tức là nhìn cuộc đời bằng khối óc chia phân Thiện Ác, Vinh Nhục, Thị Phi, Cao Thấp… Cho nên, muốn được Đạo, muốn có hạnh phúc thật sự, phải bỏ cái óc chia phân sự vật, mà Lão Tử gọi là “giải kì phân” (解其分) để mà thấy được sự “huyền đồng” (玄同) của tất cả sự vật. Cái lập trường chống Lý trí của Lão Tử, là do nơi kinh nghiệm thuần túy tâm linh của ông.
Tri thức không bao giờ đạt đến cái lẽ Tuyệt đối. Nguyên lý cùng tột của Vũ trụ Vạn Vật, tức là Đạo. Cho nên, những kẻ dùng đến Trí để mà hiểu Đạo là người Ngông. Đó là ông chống đối cái học la tập, cái học chủ Trí của người đời. Bậc Thánh nhân sở dĩ đạt đến trạng thái Tuyệt đối chỉ vì nhờ biết rõ mình là kẻ mắc cái “bệnh” nhị nguyên, cái “bệnh” phân tán, nên phòng ngừa mà tỉnh ngộ:
“Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh”

夫唯病病, 是以不病

“Biết đó là bệnh, thì không bệnh nữa.” (chương 71).
Phương pháp giải thoát, theo Lão Tử, là phương pháp tiêu cực: đừng sa vào cái tập niệm nhị nguyên, tức là gần được với Đạo rồi đấy. Và như vậy, cái mà theo Lão Tử gọi là cái học cao nhất lại giống như sự ngu dốt. Chương 45 ông nói: Đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột”

大直若屈, 大巧若拙, 大辯若 訥

“Rất thẳng dường như cong, rất khéo dường như vụng; rất hùng biện dường như ấp úng” (Chương 45). Hai chữ “dường như” cần phải nên chú ý. Dùng lời nói danh từ của giới nhị nguyên để diễn tả cái mà ta không thể phân chia (là Đạo) thật là một việc rất khó. Bởi vậy, Lão Tử thường phải mượn lối nghịch thuyết để nói về chân lý. Như khi ông nói: “Hữu sinh ư Vô” 有生於無 (“Có” sinh nơi “không”) hoặc “đại thành nhược khuyết” 大成若 缺 (Thành tựu mỹ mãn dường như dở dang), “đại doanh nhược xung” 大盈若沖 (Đầy tràn dường như trống không) (Chương 45).
Và đây là lối mà các đại triết gia biện chứng Tây Phương cũng thường dùng để miêu tả cái chân lý “động” và “trở nên” không phút nào im lặng, như Heraclite (Hy Lạp), trong câu: “Những cuộc đại thắng là những cuộc đại bại” Les plus grandes victoires sont, en même temps, les plus grandes défaites (Héraclite)…
Câu “đại doanh nhược xung” (đầy tràn, lại dường như trống không) là chỗ mà Lão Tử muốn bảo Đạo trùm lắp Trời Đất Vũ Trụ, nhưng không làm sao thấy được, nên gần như “không có” gì cả. Để diễn tả cái chỗ “không không” đó và công dụng của nó, ở chương 11, ông ví nó như cái ổ trục” của bánh xe, cái khoảng “không” của chén bát, cái chỗ “trống” của buồng the:
“Tam thập phúc, cộng nhất cốc, đương kỳ vô, hữu xa chi dụng. Duyên thực dĩ vi khí, đương kỳ vô, hữu khí chi dụng. Tạc hộ dĩ vi thất, đương kì vô, hữu thất chi dụng”

三十輻, 共一轂, 當其無, 有車之用. 埏埴以爲器, 當其無, 有器 之用. 鑿戶牖以爲室, 當其無, 有室之用. 故有之 以爲利, 無之以 爲用

“Ba chục căm, hợp lại một bầu , nhưng nhờ chỗ “không” mới có cái dùng của xe. Nhồi đất để làm chén bát, nhờ chỗ “không” mới có cái dùng của chén bát. Khoét cửa nẻo, làm buồng the, nhờ chỗ “không” mới có cái dùng của buồng the… (XI).
Đạo, thì hư vô, nhưng mà cái Đức của nó thì là nguồn gốc sinh ra trời đất vạn vật. Chữ Đức ở đây có nghĩa là “mầm sống ngấm ngầm” theo nguyên nghĩa của nó, chứ không còn phải với cái nghĩa luân lý thông thường nữa. Thật vậy, ông nói: “Khổng Đức chi dung, duy Đạo thị tùng”

孔德之 容, 惟道是從 .

(Dáng của Đức lớn, thì theo cùng với Đạo) (Chương 21.)
Một chỗ khác, ông nói: “Đạo sinh chi, Đức súc chi, trưởng chi dục chi, đình chi độc chi, dưỡng chi phúc chi…”

道生之, 德畜之, 長之育之, 亭之毒之, 養之, 覆之…

“Đạo sinh đó, Đức nuôi đó, cấp dưỡng đó, nuôi nấng đó, đùm bọc đó, bồi sức đó, dưỡng nuôi đó, che chỡ đó.” (Chương 51).
Đạo thì sinh mà Đức thì nuôi nấng và đùm bọc. Bởi vậy mới thường gọi là Huyền tẫn 玄牝 (mẹ nhiệm mầu).

Thu giang Nguyễn Duy Cần
Sách Lão tử Tinh hoa

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s